Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ Iran. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Thứ Hai, 16 tháng 12, 2013

Những lưu ý về dân chủ hóa từ Samuel P. Huntington (1)

Tháng 12 16, 2013
Phạm Hồng Sơn biên soạn
The third wave – democratization in the late twentieth century (tạm dịch: Làn sóng dân chủ hóa lần thứ ba vào cuối thế kỷ XX) là một trong những công trình nghiên cứu quan trọng của Samuel P. Huntington [i]. Như nhan đề đã nêu, trong tác phẩm này, Huntington tập trung vào hiện tượng chuyển đổi hệ thống chính trị từ phi dân chủ (độc tài) sang dân chủ của tập hợp khoảng 30 quốc gia trên qui mô toàn thế giới diễn ra trong khoảng thời gian từ năm 1974 tới năm 1990 [ii]. Tác phẩm dày hơn 300 trang (khổ 13,9cm×20,8cm), xuất bản lần đầu năm 1991, gồm 06 chương, đi từ những vấn đề có tính khái quát cơ bản về dân chủ, sự phát triển dân chủ trên thế giới trong thời hiện đại, các yếu tố tạo thành làn sóng dân chủ hóa rồi đi tới khảo sát, phân tích các tác nhân, những đặc tính, các vấn đề, thách thức hệ trọng đối với làn sóng dân chủ hóa lần thứ ba. Về lý do ra đời tác phẩm, Huntington, học giả chính trị và công dân Hoa Kỳ, viết rõ: “vì tôi tin dân chủ có tính lương thiện tự thân và…nó mang tới những hệ quả tốt đẹp cho tự do cá nhân, cho hòa bình thế giới và cho cả Hoa Kỳ.” [iii] Nhưng, ngay trong lời tựa, Huntington đã bày sự lo lắng về hiểu lầm có thể của người đọc: “tác phẩm này đề cập tới cả hai khía cạnh lý thuyết và lịch sử, nhưng đây không phải là công trình có tính học thuyết hay sử liệu…Nghiên cứu này không đưa ra mô hình tổng quát cho tiến trình dân chủ hóa những năm 1970 và 1980, cũng không mô tả bất kỳ một tiến trình dân chủ hóa riêng biệt của quốc gia nào. Tác phẩm này chỉ nhằm cố gắng lý giải và phân tích một tập hợp các chế độ có sự chuyển đổi (từ độc tài sang dân chủ) trong một thời đoạn nhất định.” [iv] Tiếp tục với tinh thần học thuật nghiêm cẩn như thế, Huntington nhắc lại nguyên tắc khách quan trong nghiên cứu của mình: “Giống như trong Political Order [v], tôi cũng cố hết sức để đảm bảo các phân tích không bị ảnh hưởng bởi những giá trị, thiên hướng, sở thích của bản thân, ít nhất trong 95% nội dung.”[vi] Nhưng, như tự nhận là một người yêu và kỳ vọng ở dân chủ, Huntington thổ lộ: “Tuy nhiên, dường như mỗi khi thấy hữu ích tôi cũng đã làm rõ thêm những ý nghĩa trong phân tích của tôi cho những người đang muốn dân chủ hóa đất nước họ. Vì vậy có năm (05) chỗ tôi đã tạm gác lại vai trò của người làm khoa học xã hội để đóng vai một nhà tư vấn chính trị và đưa ra năm bộ ‘chỉ dẫn cho các nhà dân chủ hóa’.” [vii]
Bên cạnh năm bộ chỉ dẫn cụ thể đó, toàn bộ tác phẩm cũng có thể được coi là một tập tham chiếu cho bất cứ ai quan tâm đến dân chủ hóa – một công cuộc phức tạp và hệ trọng. Để có thể giúp một số độc giả Việt Nam – những người quan tâm tới dân chủ hóa nhưng chưa có điều kiện xem tác phẩm một cách trọn vẹn – nắm bắt một cách nhanh nhất nhưng không quá thiếu sót về những gì Huntington muốn lưu ý, gửi gắm tới các nhà dân chủ hóa, tôi xin giới thiệu ba phần sau đây tới quí độc giả:
A. Những vấn đề cơ sở. B. Năm bộ hướng dẫn cho các nhà dân chủ hóa. C. Một số lưu ý quan trọng khác. (Trong đó phần A và C là lược thuật, phần B là dịch).
A. Những vấn đề cơ sở
I. Đối tượng nghiên cứu và biến số [viii]
- Đối tượng nghiên cứu ở đây là dân chủ hóa (democratization), là sự chuyển đổi thể chế chính trị, chứ không phải dân chủ (democracy) hay bản chất của chế độ hiện hành.
- Biến số phụ thuộc (dependent variable) là dân chủ hóa. Biến số phân biệt (dichotomous variable)  là dân chủ. Còn các biến số độc lập (independent variable) là các vấn đề như kinh tế, cấu trúc xã hội, niềm tin tôn giáo, đặc tính văn hóa, ngoại nhân v.v. Nói cách khác, Huntington khảo sát sự biến đổi, tương tác của các yếu tố kinh tế, xã hội, tôn giáo, văn hóa, ngoại nhân… ảnh hưởng tới tiến trình dân chủ hóa một chế độ độc tài trên cơ sở những tiêu chí đã định về dân chủ.
II. Các yếu tố thuận lợi cho dân chủ và dân chủ hóa [ix]
Huntington có dành một phần riêng [x] để bàn khá thú vị về ý nghĩa và những cách định nghĩa, định dạng dân chủ, nhưng để đơn giản hóa, chúng ta hãy coi như đã thống nhất với nhau về khái niệm dân chủ và ở đây chỉ lưu tâm tới các yếu tố hữu ích cho dân chủ và quá trình tiến tới nó –tức dân chủ hóa – theo nhãn quan của Huntington, như sau:
1. Thịnh vượng về kinh tế nói chung ở mức cao.
2. Phân phối về thu nhập và/hoặc sự thịnh vượng tương đối bình đẳng.
3. Kinh tế thị trường.
4. Kinh tế phát triển và xã hội có sự hiện đại hóa.
5. Lịch sử từng có giai cấp quí tộc phong kiến.
6. Không còn tư tưởng phong kiến.
7. Giai cấp tư sản mạnh. (Barrington Moore đúc kết: “Không tư sản, không dân chủ.”)
8. Tầng lớp trung lưu mạnh.
9. Tỷ lệ biết chữ và trình độ học vấn cao.
10. Văn hóa thiên về “ăn để sống” hơn là “sống để ăn”.[xi]
11. Tôn giáo Tin lành.
12. Xã hội có tính đa nguyên và các nhóm trung gian trong xã hội mạnh mẽ.
13. Tính cạnh tranh chính trị được phát triển trước việc tham gia chính trị được mở rộng.
14. Các nhóm, hội đoàn dân sự có cấu trúc, vận hành kiểu dân chủ, đặc biệt các nhóm có liên hệ gần với chính trị.
15. Bạo lực, xô xát trong xã hội ở mức độ thấp.
16. Sự phân cực làm hai và tư tưởng cực đoan trong chính trị ở mức thấp.
17. Các thủ lĩnh chính trị có tư tưởng gắn bó với dân chủ.
18. Từng là thuộc địa của Anh.
19. Truyền thống bao dung và thỏa hiệp.
20. Từng bị lực lượng ngoại bang dân chủ chiếm đóng.
21. Ảnh hưởng của ngoại bang dân chủ.
22. Giới tinh hoa muốn rập khuôn các nước dân chủ.
23. Truyền thống trọng luật và tự do cá nhân.
24. Tính đồng nhất trong cộng đồng (về chủng tộc, nguồn gốc, tôn giáo).
25. Tính đa dạng trong cộng đồng (về chủng tộc, nguồn gốc, tôn giáo).
26. Đồng thuận về các giá trị chính trị và xã hội.
27. Thiếu đồng thuận về các giá trị chính trị và xã hội.
III. Các thành phần chính tham dự vào dân chủ hóa [xii]
Qua khảo sát làn sóng dân chủ hóa lần thứ ba, Huntington nhận thấy tham dự vào các tiến trình chuyển đổi chính trị phức tạp đó là rất nhiều các thành phần khác nhau với các mục tiêu khác nhau, vì quyền lực, vì dân chủ hay chống dân chủ và cả vì nhiều mục đích khác. Căn cứ vào thái độ của các thành phần đó trong tiến trình dân chủ hóa, Huntington đã khái quát thành năm (05) nhóm chính thuộc hai phía:
1. Phía chính quyền độc tài: gồm ba (03) nhóm:
- Nhóm cứng đầu (standpatter) (1a);
- Nhóm cải cách theo hướng tự do (liberal refomer) (1b);
- Nhóm cải cách theo hướng dân chủ (democratic reformer) (1c).
2. Phía đối lập với chính quyền độc tài: gồm hai (02) nhóm:
- Nhóm cực đoan kiểu cách mạng (revolutionary extremist) (2a);
- Nhóm dân chủ ôn hòa (democratic moderate) (2b).
XU HƯỚNG THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI DÂN CHỦ

CHỐNG
THUẬN LỢI
CHỐNG
Chính quyền độc tài

Nhóm cải cách
Nhóm cứng đầu (1a)
Tự do hóa (1b)
Dân chủ hóa (1c)
Đối lập
Nhóm cực đoan (2a)
Nhóm dân chủ ôn hòa (2b)






Các thành phần tham dự chính yếu đó, nói chung, có cả hai loại mục tiêu giống nhau và đối kháng lẫn nhau.
Nhóm (1a) mâu thuẫn với cả (1b) và (1c) về vấn đề tự do hóa hoặc dân chủ hóa, nhưng cả ba đều có chung một mục tiêu là: chống, kìm giữ đối lập.
Nhóm (2a) và (2b) cùng có mục tiêu là phản kháng chính quyền hiện tại, giành quyền lực nhưng bất đồng về cách thức tiến hành và mô hình chính quyền tương lai.
Nhóm (1c) và (2a) có chung mục đích tạo dựng dân chủ nhưng chia rẽ về cách tiến hành, phí tổn và cơ cấu phân bổ quyền lực.
Nhóm (1a) và (2a) đối kháng tuyệt đối về quyền lực nhưng lại có cùng thiên hướng muốn gây suy yếu các nhóm dân chủ và duy trì tình trạng đối đầu thái cực trong chính trị.
Nhưng, thái độ và mục đích của các thành phần và cá nhân tham dự đều có thể biến đổi trong tiến trình, có thể tốt lên hay xấu đi cho dân chủ.
IV. Ba dạng chuyển đổi
Tương quan sức mạnh giữa 05 nhóm kể trên sẽ quyết định tới dạng thức tiến trình dân chủ hóa.
Nếu nhóm cứng đầu (1a) áp đảo trong chính quyền độc tài và nhóm cực đoan (2a) áp đảo phía đối lập, dân chủ hóa không thể xảy ra.
Đương nhiên, khi nhóm dân chủ có lực lượng vượt trội cả trong chính quyền độc tài (1c) và phía đối lập (2b) thì dân chủ hóa sẽ rất thuận lợi.
Khi nhóm dân chủ (2b) chỉ mạnh ở phía đối lập thì dân chủ hóa phụ thuộc vào các hoạt động gây tổn hại cho chính quyền độc tài và tăng cường sức mạnh của phía đối lập.
Nếu nhóm dân chủ (1c) chỉ mạnh ở phía chính quyền thì tiến trình dân chủ hóa có khả năng phải đối mặt với các hoạt động nổi loạn có vũ trang và sẽ bị thụt lùi do nhóm cứng đầu (1a) trong chính quyền độc tài tiến hành lật đổ để khống chế toàn bộ chính quyền.
Qua phân tích và quan sát sự tương tác giữa các nhóm kể trên, Huntington khái quát thành ba dạng thức dân chủ hóa sau đây:
1. Chuyển hóa (transformation) [xiii]
Điểm cơ bản của dạng thức này là những người nằm trong chính quyền độc tài nắm vai trò điều khiển và quyết định tiến trình dân chủ hóa. Ba điều kiện cần cho dạng thức này: 1. Nhóm cải cách (1b và 1c) mạnh hơn nhóm cứng đầu (1a) trong nội bộ chính quyền. 2. Chính quyền độc tài mạnh hơn phía đối lập. 3. Nhóm ôn hòa (2b) mạnh hơn nhóm cực đoan (2a) ở phía đối lập.
Dạng chuyển đổi chuyển hóa chiếm 16 trong số 35 chuyển đổi chế độ trong làn sóng dân chủ hóa lần ba. Các trường hợp điển hình: Tây Ban Nha, Brazil và Hungary.
Chuyển hóa trong làn sóng dân chủ hóa lần ba thường diễn tiến qua năm (05) giai đoạn:
1.1. Xuất hiện nhóm cải cách [xiv]
Có 05 loại lãnh đạo (chính trị gia) có nhận thức cho rằng cần (hoặc tất yếu) phải chuyển động theo hướng dân chủ.
Loại 1: Những lãnh đạo có nhận định rằng những phí tổn, thiệt hại để duy trì quyền lực – như khống chế, chính trị hóa quân đội, duy trì các liên minh ủng hộ, vật lộn với các nan đề (thường là kinh tế) và gia tăng trấn áp đối lập – đã đạt đến điểm cần phải tìm một lối thoát trong danh dự (Chile, Peru).
Loại 2: Những lãnh đạo muốn giảm các nguy cơ, rủi ro cho bản thân một khi bị mất quyền lực. Tư tưởng chính của những người này là thà mất quyền còn hơn mất mạng.
Loại 3: Những lãnh đạo dự đoán nhầm về thực thi dân chủ. Họ tin tưởng nếu tiến hành một số những cải cách theo hướng thực hiện (hoặc phục hồi) một số thủ tục dân chủ thực sự (như bầu cử tự do, công bằng) thì tính chính đáng và quyền lực (độc đoán) sẽ được củng cố. Nhưng thực tế không diễn ra như thế (Ấn Độ, Chile, Thổ Nhĩ Kỳ).
Loại 4: Những lãnh đạo tin rằng dân chủ hóa sẽ mang lại nhiều lợi ích cho đất nước họ như tăng vị thế quốc tế cho quốc gia, giảm trừng phạt từ Hoa Kỳ hay từ quốc tế, tiếp cận được với các định chế tài chính quốc tế, được tham gia vào các tổ chức quốc tế, được tới Hoa Kỳ, vân vân.
Loại 5: Những lãnh đạo tin rằng dân chủ là một dạng thức cầm quyền đúng đắn và đất nước họ đã tới lúc phải có một hệ thống chính trị dân chủ như các quốc gia dân chủ và được kính trọng khác trên thế giới (Tây Ban Nha, Brazil, Hungary, Thổ Nhĩ Kỳ).
1.2. Nhóm cải cách nắm quyền [xv]
Đương nhiên, xuất hiện tư tưởng cải cách dân chủ hóa trong chính quyền chưa đủ, nhóm này cần phải có được thực quyền trong chính quyền độc tài. Bốn (4) cơ hội thường đưa tới việc nắm quyền của nhóm cải cách trong làn sóng thứ ba:
Cơ hội 1: Chính các nhà độc tài khởi xướng bầu cử dân chủ thực sự và chấp nhận kết quả mà phần thắng thuộc về nhóm cải cách (Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Chile).
Cơ hội 2: Cái chết của nhà độc tài sáng lập (hay kỳ cựu) vào đúng thời điểm thuận lợi cho nhóm cải cách lên nắm quyền. (Tây Ban Nha, Đài Loan, Liên Xô). Riêng Trung Quốc đã rất không may ở điểm này: Đặng Tiểu Bình chết quá muộn (năm 1997, chín năm sau sự kiện biểu tình đòi dân chủ kéo dài ở Thiên An Môn năm 1989.)
Cơ hội 3: Bản thân hệ thống chính trị độc tài đã thiết lập cơ chế thay đổi quyền lực thường kỳ. Và một thay đổi thường lệ, hội thêm những điều kiện khác, đã đưa các nhà lãnh đạo cải cách lên nắm quyền áp đảo (Brazil, Mexico).
Cơ hội 4: Các nhà cải cách hợp nhau lại để phế truất, bằng đảo chính hoặc qua kỹ thuật chính trị, nhà lãnh đạo cứng đầu để thế bằng người có tư tưởng vị dân chủ (Peru, Ecuador, Guatemala, Nigeria, Hungary, Bulgaria, Nam Phi).
1.3. Sự thất bại của tự do hóa [xvi]
Huntington nhận thấy một vấn đề cốt tử trong làn sóng dân chủ hóa lần ba là vai trò của những nhà cải cách (theo xu hướng) tự do và tính ổn định của thể chế độc tài đã được tự do hóa.
- Những nhà cải cách tự do đầu tiên thay thế những lãnh đạo cứng đầu thường chỉ tại vị ngắn ngủi và tiếp tục được thay thế bằng những nhà cải cách khác có thiên hướng mạnh hơn về dân chủ.
- Đa phần những nhà cải cách tự do chỉ muốn thay đổi chứ không muốn chấm dứt chế độ mà họ đã tham gia, cống hiến gần hết sự nghiệp vào đó. Họ thường chỉ muốn làm cho chế độ độc tài dễ được xã hội chấp nhận hơn và tiếp tục duy trì bản chất độc đoán.
- Quá trình tự do hóa đưa đến điểm, có thể gọi là điểm bế tắc vàng: Kích thích ước muốn dân chủ hóa mạnh hơn của xã hội và gia tăng ý muốn trấn áp tự do của một số thành phần có quyền. Bế tắc thường thể hiện bằng sự đụng độ, va chạm giữa một phía gia tăng các đòi hỏi, yêu cầu, yêu sách, phản kháng chính quyền và phía kia, các phản ứng đe dọa, sách nhiễu, gây hấn, trấn áp.
- Giai đoạn này có những tiến triển xấu đi và tốt lên (cho dân chủ) xen kẽ nhau.
1.4. Khống chế nhóm cứng đầu [xvii]
Bản thân nhóm cứng đầu trong chính quyền (1a) luôn có xu hướng bẻ gãy hoặc làm chậm quá trình chuyển đổi về phía dân chủ. Khi điểm bế tắc vàng xảy ra, xu hướng chống cải cách của nhóm cứng đầu càng mạnh hơn. Trước thách thức thoái lui này, nhóm cải cách thường phải thực hiện được các điểm sau:
- Tập trung quyền lực cho bộ phận lãnh đạo cao cấp có xu hướng cải cách.
- Thanh tẩy – đưa – các yếu tố cứng đầu ra khỏi các khu vực quan trọng (như chính phủ, quân đội, đảng cầm quyền,…) và thay thế ngay bằng những người ủng hộ cải cách. Việc thanh tẩy này được thực hiện qua nhiều kỹ thuật và kinh nghiệm tinh tế: gây trung lập, trấn an, vận động, thỏa hiệp… sao cho không khích động ra những phản ứng thái quá, cũng như có thể gây được thêm rạn nứt trong giới cứng đầu.
- Một chiến thuật thường thấy trong các chế độ độc tài phi quân sự: các nhà cải cách tạo ra một tính “chính đáng hồi cố” (backward legitimacy) gần gũi với tính chính đáng trước đó để tạo ra cảm giác kế tục quá khứ nhằm đạt được sự đồng thuận từ mọi giới, ngoại trừ duy nhất nhóm đối lập cực đoan (2a), nhằm trấn an và bất hoạt nhóm cứng đầu trong chính quyền (1a).
- Những lãnh đạo cải cách thành công ở giai đoạn này thường là những người nhạy bén về chính trị, linh hoạt về đối pháp, vững vàng về dân chủ.
1.5. Thu nạp đối lập [xviii]
Một khi đã nắm được quyền và khống chế được nhóm cứng đầu, những lãnh đạo cải cách phải tăng tốc ngay tiến trình dân chủ hóa bằng việc tiếp xúc, tham vấn các lãnh đạo đối lập và các nhóm xã hội quan trọng để tiếp tục gia tăng sự đồng thuận, tôn tạo thêm cơ sở chính trị cũng như mở rộng thêm sự tham gia chính quyền cho phía đối lập.
- Các tiếp xúc, bàn thảo với phía đối lập (nói chung) có thể diễn ra dưới hình thức: công khai-ngầm (kín), chính thức-không chính thức.
- Những lãnh đạo cải cách thành công thường dùng áp lực gia tăng của các nhóm dân chủ (2b) để gây suy yếu nhóm cứng đầu (1a); dùng các đòi hỏi mạnh tay của nhóm cứng đầu (1a) và kỳ vọng được chia sẻ quyền lực để gia tăng sự ôn hòa ở phía đối lập.
- Tính ôn hòa và sự hợp tác của các nhóm đối lập dân chủ với nhóm lãnh đạo cải cách trong chính quyền có vai trò rất quan trọng cho chuyển hóa thành công.
2. Thay thế-lật đổ (replacement)[xix]
Điểm cơ bản của dạng chuyển đổi này là chính quyền độc tài không có các nhân tố cải cách hoặc họ hoàn toàn bị áp đảo bởi nhóm cứng đầu nhất quyết chống lại mọi thay đổi chế độ. Dân chủ hóa do đối lập xúc tiến, chính quyền suy yếu dẫn đến sụp đổ hoặc bị lật đổ.  Điều kiện cần cho thay thế-lật đổ xảy ra: 1. Phía đối lập tăng cường được sức mạnh. 2. Đồng thời, chính quyền độc tài bị suy yếu dần.
Thay thế-lật đổ là dạng chuyển đổi ít thấy nhất trong làn sóng dân chủ hóa lần ba (tổng số có 06: Bồ Đào Nha, Philippines, Rumani, Đông Đức, Argentina, Hy Lạp). Càng hiếm thấy đối với các chế độ độc tài độc đảng (có 1/11) hay độc tài quân sự (2/16). Nhưng nhiều hơn đối với độc tài cá nhân (3/7).
Thay thế-lật đổ thường có ba giai đoạn: 1. Xúc tiến các hoạt động để thay thế-lật đổ. 2. Thay thế-lật đổ. 3. Cạnh tranh giữa các nhóm đối lập hậu độc tài.
Thay thế-lật đổ trong làn sóng dân chủ hóa lần ba có một số điểm quan trọng:
- Quân đội đóng vai trò chính yếu (5/6 trường hợp): khi quân đội rút sự ủng hộ, khi quân đội tiến hành chống đối chính quyền hoặc khi quân đội từ chối dùng vũ lực chống phe đối lập, chế độ độc tài đều sụp đổ.
- Các trường hợp quân đội không bắn vào người biểu tình chống chính quyền là những trường hợp quốc gia đã có độ phát triển kinh tế khá cao và phía đối lập đã huy động được sự ủng hộ rộng rãi thuộc nhiều thành phần xã hội.
- Điểm sụp đổ của chế độ độc tài thường là đỉnh điểm gặp nhau của sự bất hợp tác hoặc biến thành chống đối chính quyền, tham gia vào đối lập của rất nhiều yếu tố, thành phần (giới trung lưu, cộng đồng tôn giáo, sinh viên, giới doanh nhân cao cấp, trí thức tinh hoa, đối tác nước ngoài như Hoa Kỳ,…)
- Các lãnh đạo độc tài bị lật đổ thường có kết cục không có hậu.
- Thường có một khoảng trống quyền lực, ngắn dài tùy thuộc tình trạng riêng từng bối cảnh, sau khi chế độ độc tài sụp đổ.
- Không xuất hiện tính “chính đáng hồi cố” như trong chuyển hóa, thay vào đó là sự áp đảo của chủ trương dứt bỏ hoàn toàn với quá khứ.
- Số phận của dân chủ được định đoạt bởi tương quan sức mạnh giữa nhóm đối lập dân chủ ôn hòa với nhóm đối lập cực đoan phi dân chủ.
3. Hóa thế (Transplacement) [xx]
Đặc trưng cơ bản của dạng chuyển đổi hóa thế là sự tương tác, phối hợp giữa nhóm cải cách (1b, 1c) phía chính quyền độc tài và nhóm ôn hòa phía đối lập (2b). Điều kiện cần cho hóa thế xảy ra: 1. Tương quan lực lượng giữa nhóm cải cách (1b, 1c) và nhóm cứng đầu (1a) trong chính quyền độc tài ở thế đưa tới khả năng chấp nhận đàm phán nhưng không chấp nhận chuyển đổi. 2. Nhóm ôn hòa (2b) chiếm thế áp đảo ở phía đối lập nhưng không đủ mạnh để lật đổ chính quyền.
Đã có 11 hóa thế xảy ra trong tổng số 35 chuyển đổi của làn sóng dân chủ hóa lần ba. Các trường hợp điển hình: Ba Lan, Cộng hòa Tiệp Khắc, Nam Hàn, Nam Phi.
Hóa thế thường trải qua một loạt gồm 04 giai đoạn liên tiếp và khác biệt:
1. Chính quyền độc tài thực hiện một số tự do hóa và bắt đầu bị mất dần quyền lực, quyền uy.
2. Đối lập tận dụng cơ hội kể trên để mở rộng sự ủng hộ và gia tăng hoạt động gây áp lực với kỳ vọng sớm thay thế-lật đổ được chính quyền.
3. Chính quyền phản ứng mạnh nhằm hạn chế, triệt hạ sự phát triển của đối lập. Căng thẳng, đụng độ giữa hai phía bùng nổ.
4. Cả hai phía, chính quyền độc tài và đối lập, đều nhận ra tình trạng bế tắc và bắt đầu thăm dò những khả năng chuyển đổi bằng đối thoại, đàm phán. (giai đoạn này có thể không xảy ra, khi: Sau một thay đổi về lãnh đạo, phía chính quyền đột ngột dùng cảnh sát và quân đội trấn áp tàn bạo đối lập; hoặc phía đối lập gia tăng được sức mạnh khiến chính quyền sụp đổ.
Một số lưu ý khác trong hóa thế:
- Tương quan sức mạnh giữa đối lập và chính quyền ở mức khá tương đương tới mức khiến cho nguy cơ đụng độ, thảm họa dễ xảy ra hơn là khả năng đàm phán, thỏa hiệp.
- Trong chính quyền thường có những yếu tố vận động, gây áp lực giới lãnh đạo cao nhất hướng tới đối thoại với đối lập.
- Nhóm ôn hòa phía đối lập phải đủ mạnh để gây tin tưởng trong đàm phán.
- Đối lập dễ chấp nhận đàm phán hơn khi chính quyền không quá bạo lực và trong chính quyền có các nhân vật ủng hộ việc chia sẻ quyền lực. Phía chính quyền dễ đi đến đối thoại hơn nếu phía đối lập không dùng bạo lực và có các thành phần đã từng tham dự chính thức trong chính quyền.
- Các chiến dịch của đối lập trên đường phố, thực địa (biểu tình, bãi công, bãi khóa, tuần hành,…) có diễn tiến lên xuống, trồi sụt lặp lại và kéo dài tương ứng với các đối phó, trấn áp của chính quyền (phong tỏa, bạo hành, bắt bớ, thiết quân luật,…).
- Giai đoạn tiền đối thoại (đàm phán) gần như là bắt buộc phải xảy ra: đối lập chấp nhận thuyên giảm hoặc hứa từ bỏ một số loại hoạt động áp lực,…; chính quyền thả tù chính trị, công nhận tính chính đáng của một số nhóm (cá nhân) đối lập,…
- Đàm phán luôn có tính mong manh và cả hai bên đều gặp cùng một khó khăn: bị các nhóm khác trong phe mình phản đối đàm phán hoặc bác bỏ kết quả đám phán.
- Đàm phán thất bại sẽ là cơ hội cho nhóm cứng đầu (1a) và cực đoan (2a) giành lại quyền kiểm soát tình hình (trong chính quyền và đối lập).
- Các đàm phán thành công thường được dựa trên nền tảng đảm bảo để không ai bị mất tất cả (phía chính quyền được đảm bảo không bị truy tố, trừng phạt vì những bạo hành trong quá khứ,…; phía đối lập được đảm bảo chia sẻ quyền lực,…)
(Ranh giới giữa chuyển hóa và hóa thế thường không rõ ràng, trong một số trường hợp có thể xếp lẫn sang nhau.)
(Còn tiếp 2 kì)
© Phạm Hồng Sơn & pro&contra

[i] Samuel P. Huntington (1927-2008), giáo sư chính trị học tại các đại học Harvard, Columbia, học giả có ảnh hưởng của Hoa Kỳ, đồng sáng lập Foreign Policy, từng làm tư vấn cho Bộ Ngoại giao, Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ và cố vấn cho một số chính quyền nước ngoài. Một tác phẩm của Huntington đã được dịch ra tiếng Việt: The clash of civilizations and the remaking of world order (1996), do Nxb Lao Động ấn hành năm 2005 với nhan đề Sự va chạm của các nền văn minh.
[ii] Tập hợp các  quốc gia này gồm: Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ecuador, Peru, Bolivia, Argentina, Uruguay, Brazil, Honduras, Salvadoran, Guatemala, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Philippines, Nam Hàn, Đài Loan, Hungary, Ba Lan, Đông Đức, Tiệp, Rumani, Mông Cổ, Mexico, Chile, Grenada, Nicaragua, Haiti, Papua New Guinea, Nambimia, Nam Phi, Nepal, Bulgari… Samuel P. Huntington, The third wave – democratization in the late twentieth century, Oklahoma, paperback printing 1993, University of Oklahoma Press, trang 22-25. (các chú thích sau đây về số trang đều dựa trên bản sách này, nếu có khác sẽ có chú thích thêm)
Huntington đưa ra khái niệm “làn sóng dân chủ hóa”: “là một nhóm các chuyển đổi thể chế từ phi dân chủ sang dân chủ, xuất hiện trong một thời đoạn cụ thể và có tính áp đảo những chuyển đổi theo chiều ngược lại trong cùng thời kỳ.” – trang 15.  Làn sóng dân chủ hóa thứ nhất, theo Huntington, diễn ra trong khoảng 1828-1926, làn sóng thứ hai 1943-1962 (trang 16). Lưu ý: mỗi làn sóng này đều có một làn sóng đảo ngược (trở lại phi dân chủ, nhiều hoặc ít) sau đó.
[iii] Trang xv.
[iv] Trang xiii.
[v] Một tác phẩm quan trọng khác của Huntington xuất bản năm 1968, tên đầy đủ: Political order in changing societies.
[vi] Trang xv.
[vii] Trang xv. Từ nhà dân chủ hóa dịch từ chữ democratizer – đây là chữ ít thấy dùng trong các tài liệu tương tự, bản thân người biên soạn chưa thấy ai dùng. Có lẽ đây là chữ dùng riêng của Huntington và điều này cũng phù hợp với tư duy của ông : dân chủ hóa là tiến trình có sự tham gia của nhiều thành phần, đối tượng, không cứ phải là người có tư tưởng (thực sự) dân chủ (democrat, democratic) hay vì dân chủ (pro-democracy activist).
[viii] Trang 11-12, 31-35.
[ix] Trang 37-38.
[x] Trang 5-13.
[xi] Nguyên văn: an instrumental rather than consummatory culture.
[xii] Trang 121-123.
[xiii] Trang 124-141.
[xiv] Trang 127-129.
[xv] Trang 129-131.
[xvi] Trang 131-137.
[xvii] Trang 137-139.
[xviii] Trang 139-141.
[xix] Trang 142-151.
[xx] Trang 151-161.

Samuel P. Huntington - Dân chủ hóa ở các nước diễn ra như thế nào [2]

Samuel P. Huntington
Vương Thiện chuyển ngữ
Theo Đàn Chim Việt
 
 Chế độ tại Chi- lê giữa những năm 1973 và 1989 một phần là chế độ quân sự nhưng trái ngược với các chế độ quân sự khác ở Nam Mỹ, trong suốt thời kỳ tồn tại của nó, cũng chỉ có một lãnh đạo, người đã phát triển các nguồn lực chính trị khác. Do vậy, chế độ này mang khá nhiều các đặc điểm của một chế độ độc tài mang tính cá nhân.
Chế độ độc tài Noriega của Panama, một mặt, cá nhân hóa rất cao nhưng cũng phụ thuộc gần như hoàn toàn vào quyền lực quân sự. Các phân loại trong Bảng 1 do đó phải được xem như những xấp xỉ phác thảo. Khi một chế độ có các yếu tố của cả hai dạng thức, chế độ đó sẽ được phân loại dựa trên những yếu tố nổi trội khi quá trình chuyển đổi đang bắt đầu.
Trong làn sóng lần thứ hai, dân chủ hóa diễn ra phần lớn thông qua sự áp đặt ngoài nước và phi thực dân hóa. Trong làn sóng thứ ba này, như chúng ta đã thấy, hai quá trình này ít đặc biệt hơn, giới hạn trước năm 1990 ở Grenada, Panama, và một vài nước nhỏ là thuộc địa cũ của Anh mà phần lớn nằm trong khu vực Ca-ri-bê. Trong khi các ảnh hưởng từ bên ngoài thường là những nguyên nhân quan trọng của làn sóng dân chủ hóa lần thứ ba, tự bản thân các quá trình này lại mang tính nội tại một cách áp đảo. Các quá trình này có thể được định vị là nằm trên một trục liên tục về tầm quan trọng tương đối của việc điều hành nhà nước và các nhóm đối lập thì được xem như nguồn của dân chủ hóa. Cho các mục tiêu phân tích, sẽ giúp ích nếu nhóm các trường hợp này lại thành 3 loại quá trình chính. Biến đổi (hoặc như cụm từ của Juan J. Linz, sửa đổi) xuất hiện khi các tầng lớp chóp bu cầm quyền chủ động tiến hành thực cải tổ tạo ra dân chủ. Thay thế (hay tuyệt giao, từ của Linz) xuất hiện khi các nhóm đối lập nắm vị trí đầu trong quá trình đem lại dân chủ, và chế độ độc tài sụp đổ hoặc bị lật đổ. Cái được gọi là sự tách thoát hay “biến đổi và thay thế” xuất hiện khi dân chủ hóa đạt được chủ yếu từ hành động chung giữa chính phủ và các nhóm đối lập. Hầu như trong tất cả các trường hợp, các nhóm cả đang nắm giữ quyền lực và bị tước quyền lực đều đóng vai trò nào đó, và các phân loại này chỉ đơn giản để phân biệt vai trò quan trọng tương đối của chính phủ và bên đối lập.
Như với các loại chế độ, các trường hợp về thay đổi chế độ trong lịch sử không nhất thiết phải hợp khít vào các phân loại mang tính lý thuyết ở đây. Hầu như tất cả các chuyển đổi, không chỉ các quá trình tách thoát, đều có ít nhiều thương lượng – rõ ràng hoặc ẩn, công khai hay vụng trộm – giữa chính phủ và các nhóm đối lập. Thỉnh thoảng chuyển đổi bắt đầu như một dạng thức nhưng sau đó dần trở thành một dạng thức khác. Ví dụ, đầu những năm 1980, P. W. Botha có vẻ như bắt đầu khởi xướng quá trình biến đổi trong hệ thống chính trị Nam Phi, nhưng ông ta đã dừng lại kiểu như không dân chủ hóa hệ thống này. Đối diện với một môi trường chính trị khác biệt, người kế nhiệm của ông này, F.W. de Klerk, chuyển sang quá trình tách thoát trong đó có thương lượng với nhóm đối lập chính. Tương tự, các học giả đồng ý với nhau là chính phủ Bra-zil đã khởi xướng và kiểm soát quá trình chuyển đổi cho rất nhiều năm. Một số lại cho rằng chính phủ này đã để mất quyền kiểm soát của mình trong quá trình đó và đấy là kết quả của các cuộc huy động dân chúng và biểu tình trong những năm 1979–1980; tuy nhiên, những người khác lại chỉ ra rằng thành công của chính phủ trong việc kháng cự lại những yêu cầu mạnh mẽ của phe đối lập về bầu cử trực tiếp tổng thống giữa thập niên 1980s. Mỗi trường hợp trong lịch sử đều bao gồm cả các yếu tố của hai hoặc nhiều hơn thế các quá trình chuyển đổi. Mặc dù vậy, gần như mỗi trường hợp trong lịch sử đều rơi vào một loại quá trình rõ hơn vào các quá trình khác.
Bản chất của chế độ độc tài có liên lạc như thế nào với bản chất của quá trình chuyển đổi? Như Bảng 1 cho thấy, không có mối quan hệ một – một. Mặc dù vậy, bản chất của chế độ độc tài có ảnh hưởng lên bản chất của quá trình chuyển đổi. Ngoài 3 ngoại lệ, tất cả các chuyển đổi từ chế độ quân sự đều kéo theo biến đổi hoặc tách thoát.
Trong 3 ngoại lệ - Ác-hen-ti-na, Hy Lạp và Panama – các chế độ quân sự chịu thất bại quân sự và sụp đổ như một hệ quả. Ở đâu đó, những kẻ thống trị trong quân đội cầm đầu, thỉnh thoảng để đáp trả lại áp lực từ phía đối lập và từ phía dân chúng, trong việc đem lại sự thay đổi trong chế độ. Những kẻ thống trị trong quân đội ở vị trí tốt hơn để chấm dứt chế độ của họ so với những kẻ thống trị của các chế độ khác. Hầu như những kẻ thống trị quân sự này không bao giờ xác định họ là những người thống trị vĩnh viễn đất nước của họ. Họ duy trì hy vọng là một khi họ xóa bỏ được các tội ác mà từ đó đã dẫn họ đến quyền lực, họ sẽ từ bỏ quyền lực và trở về các chức năng quân sự bình thường của mình. Quân đội có một vai trò thể chế vĩnh viễn khác với chính trị và quản trị nhà nước. Tại một điểm nào đó, các lãnh đạo quân đội (không phải ở Ác-hen-ti-na, Hy Lạp và Panama), quyết định rằng thời điểm đã đến để khởi xướng việc trao trả lại quyền lực cho trật tự dân chủ dân sự hoặc để thương lượng sự thoái lui của họ về quyền lực với các nhóm đối lập. Hầu như luôn luôn việc này diễn ra sau khi đã có ít nhất một sự thay đổi trong hàng ngũ giới lãnh đạo cấp cao của chế độ quân sự.
Lãnh đạo quân đội hầu như lúc nào cũng vậy đặt ra hai điều kiện hay “đảm bảo cho sự ra đi” cho sự thoái lui khỏi quyền lực của họ. Thứ nhất, sẽ không có truy tố, trừng phạt, hay sự trả đũa khác chống lại các sỹ quan quân đội đối với bất kỳ hành động nào họ đã phạm phải khi họ đang nắm quyền lực. Thứ hai, các vai trò thể chế và quyền tự quản của tổ chức quân đội sẽ được tôn trọng, bao gồm cả trách nhiệm toàn bộ của quân đội đối với an ninh quốc gia, vai trò lãnh đạo của quân đội đối với các bộ của chính phủ khi liên quan đến vấn đề an ninh, và thường bao gồm cả quyền kiểm soát của quân đội đối với các ngành công nghiệp vũ khí và các xí nghiệp kinh tế khác mà theo truyền thống nằm dưới sự bảo hộ của quân đội. Khả năng của giới quân sự đang thoái lui đối với việc đảm bảo thỏa thuận với các lãnh đạo chính trị dân sự cho các điều kiện này phụ thuộc vào quyền lực tương đối của họ. Tại Brazil, Peru, và các ví dụ khác về biến đổi, giới lãnh đạo quân sự của những nước này thống trị quá trình và các lãnh đạo chính trị dân sự có rất ít lựa chọn ngoài việc phải chấp thuận các yêu cầu của quân đội. Khi nào quyền lực tương đối giữa hai bên cân bằng hơn, như ở Uruguay, các cuộc thương lượng dẫn đến một vài sửa đổi trong các yêu cầu của giới quân sự. Lãnh đạo quân sự của Hy Lạp và Ác-hen-ti-na đòi hỏi các đảm bảo tương tự như các lãnh đạo ở nơi khác đã đưa rra. Nhưng các đòi hỏi của họ bị giới lãnh đạo dân sự từ chối thẳng thừng, và họ phải đồng ý đầu hàng quyền lực gần như vô điều kiện.
Do đó, đối với giới lãnh đạo quân đội, khá dễ cho họ thoái lui khỏi quyền lực và quay trở về với vai trò quân sự chuyên nghiệp của mình. Tuy nhiên, mặt sau của đồng xu là ở chỗ cũng tương tự như vậy khá dễ dàng cho họ quay trở về nắm quyền khi có tình trạng khẩn cấp và khi quyền lợi của họ bị đe dọa. Giới lãnh đạo chính trị và quân sự không thể đợi đến cơ hội lần thứ hai mới tổ chức một hành động quân sự thành công. Các nền dân chủ trong làn sóng lần thứ ba tiếp quản từ chế độ quân sự bắt đầu hành trình của mình dưới cái bóng này.
Quá trình chuyển đổi và chuyển dịch cũng tiêu biểu cho sự chuyển tiếp từ hệ thống một đảng sang dân chủ trong suốt năm 1989, trừ ở Đông Âu và Grenada. Chế độ một đảng có khung thể chế và tính hợp pháp về ý thức hệ khác với cả chế độ dân chủ và quân sự. Các chế độ một đảng này cũng có một mặc định về tính vĩnh cửu khiến chúng được phân biệt với các chế độ quân sự. Đặc điểm đặc trưng của hệ thống một đảng là sự đan xen chặt chẽ giữa đảng và nhà nước. Điều này tạo ra hai nhóm vấn đề, về thể chế tổ chức và về ý thức hệ, khi chuyển tiếp sang dân chủ.
Các vấn đề thuộc về thể chế là nghiêm trọng nhất trong kiểu nhà nước theo đảng Lê-nin-nít. Ở Đài Loan cũng như các nước cộng sản khác, sự “tách biệt đảng ra khỏi nhà nước” là “thách thức lớn nhất của một đảng Lênin-nít” trong quá trình dân chủ hóa. Ở Hungary, Séc và Slôvakia, Ba Lan, và Đông Âu, các điều khoản trong Hiến pháp quy định về “vai trò lãnh đạo” của đảng cộng sản đã phải bị bãi bỏ. Tại Đài Loan, những “điều khoản tạm thời” tương tự như vậy được thêm vào Hiến pháp năm 1950 cũng bị thách thức như thế. Trong tất cả các hệ thống đảng Lênin-nít, vấn đề chính nổi cộm là những vấn đề liên quan đến quyền sở hữu tài sản và tài chính – chúng thuộc đảng hay thuộc nhà nước? Việc xử lý một cách đúng đắn các tài sản này cũng là một câu hỏi – nên do đảng giữ lại, hay để cho nhà nước quốc hữu hóa, hay cho đảng bán cho người trả thầu cao nhất, hay nên được phân phối một cách công bằng giữa các nhóm xã hội và chính trị? Ví dụ như tại Nicaragua, sau khi thất cử hồi tháng hai năm 1990, chính phủ của Sandinista rõ ràng đã hành động nhanh chóng “chuyển giao khối lượng lớn tài sản của chính phủ sang tay của Sandinista.” “Họ bán nhà lẫn cho nhau, bán xe cho nhau,” một doanh nhân chống Sandinista đã cáo buộc như vậy. Những cáo buộc tương tự về việc xử lý tài sản của chính phủ cũng được đưa ra cho đảng cộng sản khi Đảng Thống nhất chuẩn bị nắm chính phủ ở Ba Lan. (Trong một động thái tương tự ở Chi-lê, khi chuẩn bị mất quyền, chính phủ Pinochet chuyển giao sang tài sản căn cứ quân sự và hồ sơ thuộc các cơ quan khác của chính phủ.) Ở một số nước, lực lượng dân quân của đảng đã phải bị giải tán hoặc đặt dưới sự kiểm soát của chính phủ, và trong hầu hết các nhà nước một đảng, lực lượng vũ trang đã phải được phi chính trị hóa. Như tại Ba Lan, cũng như ở hầu hết các nước cộng sản khác, tất cả các sỹ quan quân đội phải là thành viên của đảng cộng sản; tuy nhiên, năm 1989, các sỹ quan quân đội Ba Lan đã vận động quốc hội cấm sỹ quan quân đội là thành viên của bất cứ đảng chính trị nào. Ở Nicaragua, Quân đội nhân dân của chính phủ Sandinista đã từng là quân đội của phong trào, cũng đã trở thành quân đội của nhà nước, và sau đó phải bị chuyển trở lại chỉ thành quân đội của nhà nước mà thôi. Câu hỏi liệu các chi bộ của đảng trong các tổ chức kinh tế có nên tiếp tục tồn tại hay không cũng là một vấn đề rất tranh cãi. Cuối cùng, ở đâu mà chỉ có một đảng duy nhất nắm quyền, ở đó sẽ vẫn có câu hỏi về mối quan hệ của giới lãnh đạo của đảng này trong chính phủ và những cơ quan hàng đầu của đảng như bộ chính trị và ủy ban trung ương. Trong nhà nước Lênin-nít những cơ quan của đảng đưa ra mệnh lệnh về chính sách cho lãnh đạo chính phủ. Tuy thế, mối quan hệ này cũng không thể so sánh được với quyền uy tối cao của các cơ quan được bầu ra của quốc hội và những văn phòng nội các có trách nhiệm trong một nhà nước dân chủ.
Nhóm vấn đề tiêu biểu thứ hai thuộc về ý thức hệ. Trong các hệ thống một đảng, ý thức hệ của đảng tạo ra bản tính của nhà nước. Do đó, chống đối lại đảng nâng lên tương đương với phản bội nhà nước. Để hợp pháp hóa tính đối lập với đảng, cần thiết phải xây dựng được bản tính nào đó khác cho nhà nước. Vấn đề này được thể hiện trong 3 bối cảnh sau. Đầu tiên, tại Ba Lan, Hungary, Séc và Slôvakia, Romania và Bulgaria, ý thức hệ và quyền lực cộng sản là do Liên bang Sô Viết áp đặt. Ý thức hệ này không phải là thiết yếu để xác định bản tính của đất nước. Trên thực tế, trong ít nhất 3 trong số những nước này, chủ nghĩa dân tộc đã phản đối chủ nghĩa cộng sản. Khi đảng cộng sản của những nước này từ bỏ tuyên bố của họ về quyền lực không thể tranh giành dựa trên ý thức hệ đó, các nước này đã tái xác định lại họ từ “cộng hòa nhân dân” thành “cộng hòa” và tái thiết lập lại chủ nghĩa dân tộc chứ không phải là hệ tư tưởng làm cơ sở cho nhà nước. Những thay đổi này do đó diễn ra tương đối dễ dàng.
Thứ hai, một vài hệ thống một đảng mà dân chủ hóa trở thành một vấn đề đã được thiết lập từ các cuộc cách mạng dân tộc. Trong các trường hợp này – Trung Quốc, Mê-hi-cô, Nicaragua, và Thổ Nhĩ Kỳ - bản chất và mục đích của nhà nước được xác định bằng ý thức hệ của đảng. Ở Trung Quốc, chế độ này đã trung thành tuyệt đối ý thức hệ của nó và coi sự chống đối mang tính dân chủ đối lập với đảng cộng sản là phản bội đất nước. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, chính phủ nước này thực hiện một chính sách không dứt khoát và nước đôi đối với các nhóm Hồi giáo thách thức cơ sở thế tục của nhà nước của Kema này. Ở Mê-hi-cô, sự lãnh đạo của Đảng Cách mạng Nhà nước (PRI) cũng có quan điểm tương tự trước thách thức về tự do của đảng đối lập Đảng Hành động Quốc gia (PAN) với đặc tính cách mạng, xã hội và theo chủ nghĩa nghiệp đoàn của nhà nước của Đảng PRI. Ở Nicaragua, ý thức hệ của chính phủ Sandinista là cơ sở của không chỉ chương trình của một đảng mà còn của tính hợp pháp của nhà nước được tạo ra từ cuộc cách mạng Nicaragua.
Thứ ba, trong một vài ví dụ, ý thức hệ của một đảng duy nhất xác định bản chất của nhà nước và phạm vi địa lý của nhà nước đó. Tại Nam Tư và Liên bang Sôviết, ý thức hệ cộng sản đã đưa lại tính hợp pháp về tư tưởng cho nhà nước đa dân tộc. Nếu như ý thức hệ này bị bác bỏ, cơ sở cho nhà nước kiểu đó sẽ biến mất và mỗi dân tộc sẽ có thể tuyên bố nhà nước riêng của mình một cách hợp pháp. Ở Đông Đức, chủ nghĩa cộng sản đưa ra cơ sở ý thức hệ cho một nhà nước riêng rẽ; khi ý thức hệ này bị từ bỏ, cơ sở hợp lý cho một nhà nước Đông Đức biến mất. Hệ tư tưởng của Trung Hoa Quốc dân Đảng (KMT) xác định nhà nước ở Đài Loan là chính phủ của Trung Quốc, và chế độ này đã thấy những nhân tố đối lập ủng hộ một Đài Loan độc lập như những nhân tố có tính chất lật đổ. Vấn đề ở đây ít nghiêm trọng hơn so với 3 trường hợp khác vì hệ tư tưởng được hợp pháp hóa như một khát vọng hơn là một thực tế. Chính phủ của Quốc dân đảng hoạt động trên thực tế như một chính phủ cực kỳ thành công của Đài Loan ngay cả khi trong chính mắt nó tính hợp pháp của nhà nước này phụ thuộc vào chuyện tưởng tượng rằng chính phủ này là chính phủ đúng đắn của toàn nước Trung Hoa.
Khi quân đội từ bỏ kiểm soát chính phủ, họ cũng không từ bỏ kiểm soát các công cụ bạo lực mà với những công cụ này họ có thể phải lấy lại quyền kiểm soát chính phủ.
Dân chủ hóa hệ thống một đảng, tuy nhiên, có nghĩa là đảng chính trị duy nhất tự đặt nó trong nguy cơ kiểm soát của chính phủ và trở thành một đảng thứ hai cạnh tranh trong một hệ thống đa đảng. Trong ý này, sự phân quyền ít hoàn thiện hơn so với cho quân đội khi họ thoái lui. Đảng vẫn ở lại duy trì như một diễn viên chính trị. Bị thua trong bầu cử năm 1990, Chính phủ của Sandinista có thể hy vọng “chiến đấu một ngày nào đó” và giành lại quyền lực thông qua các phương tiện bầu cử. Tại Bulgaria và Romania, các đảng cộng sản cũ giành chiến thắng trong bầu cử; ở những nước Đông Âu khác, đảng cộng sản có hy vọng ít lạc quan hơn tham gia trong một chính phủ liên minh một lúc nào đó trong tương lai.
Sau khi thực hiện dân chủ hóa, đảng độc tôn trước đó ở một vị trí không thể tốt hơn so với nhóm chính trị khác tái thiết lập nên một hệ thống độc tài. Đảng từ bỏ độc quyền của nó nhưng không từ bỏ cơ hội cạnh tranh cho quyền lực thông qua các phương pháp dân chủ. Khi trở lại doanh trại, quân đội từ bỏ cả hai, nhưng họ cũng vẫn giữ lại khả năng tái chiếm lại quyền lực bằng các phương pháp phi dân chủ. Chuyển tiếp từ một chế độ một đảng sang dân chủ do đó có vẻ như khó khăn hơn chuyển tiếp từ một chế độ quân sự sang dân chủ, nhưng cũng có vẻ như sẽ lâu dài hơn. Những khó khăn của chuyển hình từ hệ thống một đảng có lẽ được phản ánh ở sự thật là vào năm 1990 lãnh đạo của các chế độ như ở Đài Loan, Mê-hi-cô và Liên bang Sô Viết đã khởi xướng phong trào tự do giải phóng chế độ của họ nhưng cũng chỉ dịch chuyển chậm chạp đến một nền dân chủ đầy đủ.
Lãnh đạo của các chế độ độc tài mang tính cá nhân có vẻ ít giống như lãnh đạo của giới quân đội và của chế độ một đảng trong việc từ bỏ quyền lực của họ một cách tự nguyện. Những kẻ độc tài của những đất nước chuyển sang hoặc không chuyển sang dân chủ thường cố giữ cái ghế của mình càng lâu càng tốt khi họ còn có thể. Điều này thường gây ra căng thẳng giữa một hệ thống chính trị có cơ sở hẹp và một nền kinh tế và xã hội ngày càng phức tạp và hiện đại. Nó cũng dẫn đến cơ hội mà kẻ độc tài bị lật đổ bằng bạo lực, như đã diễn ra ở Cuba, Nicaragua, Haiti, và Iran, và người thay thế kẻ độc tài này lại là một chế độ độc tài khác. Trong làn sóng dân chủ hóa lần thứ ba, các cuộc nổi dậy tương tự đã lật đổ các kẻ độc tài ở Bồ Đào Nha, Phi-lip-pin và Romania. Ở Tây Ban Nha, kẻ độc tài chết và những người kế nhiệm ông ta thực hiện một trường hợp cổ điển chuyển hình dân chủ từ trên xuống. Ở Ấn Độ và Chilê, lãnh đạo nắm quyền ứng cử trong các cuộc bầu cử với một niềm tin rõ ràng nhưng nhầm lẫn là cử tri sẽ xác nhận quyền lực của họ. Khi điều này không xảy ra, họ, không giống như Marcos và Manuel Noriega, chấp nhận kết quả bầu cử.
Trong trường hợp của các chế độ sultanic, chuyển đổi sang dân chủ trở nên phức tạp do tình trạng yếu kém của các đảng phái chính trị và của các tổ chức khác. Chuyển đổi sang dân chủ từ chế độ độc tài do đó diễn ra khi kẻ độc tài qua đời và những người kế nhiệm quyết định thực hiện dân chủ hóa, khi kẻ độc tài bị lật đổ, và khi ông ta hoặc bà ta tính toán sai sự ủng hộ có thể khiến họ giành được chiến thắng trong bầu cử.
 
 

Samuel P. Huntington - Dân chủ hóa ở các nước diễn ra như thế nào [1]

Samuel P. Huntington
Vương Thiện chuyển ngữ
Lời giới thiệu: SAMUEL P. HUNTINGTON là giáo sư Albert J. Weatherhead III của trường Đại học Harvard. Ông qua đời tháng 12/2008. Ông là một nhà khoa học chính trị xuất sắc trong các môn như quan hệ dân sự - quân sự, phát triển chính trị, nhà nước so sánh và đụng độ toàn cầu giữa các nền văn hóa. Giáo sư Huntington còn là một người bạn tốt của tạp chí quý Khoa học Chính trị và Biên tập viên của tạp chí này. Chúng tôi thương tiếc ông một cách sâu sắc. Bài báo này vốn đã được xuất bản trong số mùa Đông năm 1991 của Tạp chí và đã là một trong những bài viết được đọc nhiều nhất trên JSTOR và cả trên trang web của chúng tôi.
Giữa những năm 1974 và 1990 hơn 30 nước Nam Âu, châu Mỹ latinh, Đông Á, và Đông Âu chuyển đổi từ chế độ độc tài sang hệ thống chính thể dân chủ. Cuộc “cách mạng dân chủ toàn cầu” này có lẽ là trào lưu chính trị quan trọng nhất cuối thế kỷ 20. Đây là làn sóng dân chủ hóa lần thứ ba trong kỷ nguyên hiện đại. Làn sóng dân chủ hóa này bao gồm một nhóm các nước chuyển đổi từ chế độ phi dân chủ sang chế độ dân chủ trong một khoảng thời gian nhất định, và số lượng các nước như vậy nhiều hơn nhiều các quá trình chuyển đổi đối nghịch trong cùng khoảng thời gian. Làn sóng thứ nhất diễn ra tại châu Mỹ vào đầu thế kỷ mười chín và lên đến đỉnh điểm vào giai đoạn cuối chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, với khoảng 30 nước đạt được chế độ dân chủ. Cuộc đổ bộ của Mussolini vào thành Rome năm 1922 bắt đầu một làn sóng đối nghịch, và vào năm 1942 chỉ còn lại 12 nền dân chủ trên thế giới. Với chiến thắng của quân đội Đồng minh ở chiến tranh Thế giới lần thứ hai và ảnh hưởng từ phong trào phi thực dân hóa, phong trào hướng tới dân chủ lần thứ hai đã được khởi xướng, mặc dù phong trào lần này yếu dần và thoái trào vào đầu thập niên 60, với khoảng 36 nước hưởng các chế độ dân chủ. Tiếp ngay sau đó là phong trào đối nghịch lần thứ hai hướng về chủ nghĩa độc tài, đánh dấu đột ngột nhất là bằng các cuộc tiếp quản quân sự tại châu Mỹ latinh và cướp chính quyền của những kẻ độc tài như Ferdinand Marcos.
Nguyên nhân khởi nguồn của làn sóng thứ ba, cũng như của các làn sóng trước đó, rất phức tạp và mang tính đặc thù riêng. Tuy nhiên, bài viết này không lưu tâm tới việc tại sao có làn sóng thứ ba này, mà hơn hết lưu tâm với câu hỏi là các tiến trình dân chủ hóa của làn sóng này đã diễn ra như thế nào: các cách thức trong đó lãnh đạo chính trị và quần chúng trong thập niên 1970 và 1980 kết thúc các hệ thống độc tài và tạo ra các chế độ dân chủ. Con đường đi đến sự thay đổi rất đa dạng, cũng như thế về những nhân vật chủ chốt đưa đến sự thay đổi. Hơn hết, điểm bắt đầu và kết thúc của các quá trình này không đối xứng. Có những sự khác biệt rõ rệt tồn tại giữa các chế độ dân chủ: một vài dưới hình thức dân chủ tổng thống, số khác theo hình thức nghị viện, số khác nữa theo trường phái của Charles De Gaulle là sự tổng hòa của cả hai hình thức trên; do đó, một số là hai đảng, số khác đa đảng, và những sự khác biệt lớn tồn tại ở bản chất và sức mạnh của các đảng này. Những sự khác biệt này có tầm quan trọng đáng kể đối với tính ổn định của các hệ thống dân chủ đã hình thành, nhưng không quan trọng lắm trong các quá trình dẫn đến việc ra đời những nền dân chủ này[1]. Sự khác biệt quan trọng hơn cả là trong tất cả các nền dân chủ, viên chức chính của chính phủ được lựa chọn thông qua các cuộc bầu cử mang tính cạnh tranh mà trong đó toàn thể dân chúng đều có thể tham gia. Do đó, các hệ thống dân chủ có một điểm hạt nhân chung về thể chế và đây chính là cái tạo nên đặc tính của các hệ thống này. Các hệ thống độc tài – như từ này được dùng trong nghiên cứu này – được xác định đơn giản là tính vắng mặt của hạt nhân thể chế đó. Ngoài việc không phải là các thể chế dân chủ, các thể chế này có thể không có gì nhiều chung. Do đó, sẽ là cần thiết bắt đầu cuộc thảo luận về sự thay đổi trong các chế độ độc tài bằng việc xác định những sự khác biệt giữa các chế độ này và điểm quan trọng trong những điểm khác biệt đó đối với các tiến trình dân chủ hóa.

CÁC CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI

Trong lịch sử, các chế độ phi dân chủ tồn tại dưới rất nhiều hình thức khác nhau. Các chế độ tiến hành dân chủ hóa trong làn sóng lần thứ nhất nói chung là các chế độ quân chủ chuyên chế, chế độ quý tộc phong kiến còn rơi rớt lại, và các quốc gia kế thừa các đế chế lục địa. Các chế độ dân chủ hóa trong làn sóng lần thứ hai trước đó là các quốc gia phát xít, thuộc địa, và độc tài chính trị cá nhân hóa và trước đó thường đã có kinh nghiệm về dân chủ. Các chế độ chuyển động và hướng tới dân chủ trong làn sóng lần thứ ba rơi vào 3 nhóm: chế độ một đảng, chế độ quân sự, và chế độ độc tài mang tính cá nhân.
Hệ thống một đảng hình thành từ cuộc cách mạng hoặc do sự áp đặt của Xô-viết và bao gồm các nước cộng sản cộng thêm Đài Loan và Mê-hi-cô (Thổ Nhĩ Kỳ cũng phù hợp với mô hình này trước khi nước này thực hiện dân chủ hóa trong làn sóng lần thứ hai vào những năm 1940). Trong các hệ thống này, đảng cầm quyền giữ độc quyền về quyền lực, tiếp cận quyền lực thông qua tổ chức đảng, và đảng cầm quyền hợp pháp hóa sự thống trị của mình thông qua ý thức hệ/hệ tư tưởng. Các hệ thống này thường đạt được mức độ thể chế hóa chính trị tương đối cao. Các chế độ quân sự được tạo ra sau các cuộc đảo chính lật đổ chính phủ dân chủ hoặc dân sự. Trong các hệ thống này, quân đội thực thi quyền lực trên cơ sở thể chế, với một đặc tính tiêu biểu là giới lãnh đạo quân đội thường quản lý nhà nước như những kẻ độc tài quân sự hoặc phân phối các vị trí hàng đầu trong chính phủ cho các vị tướng lĩnh đứng đầu quân đội. Các chế độ quân sự tồn tại trong rất nhiều nước ở châu Mỹ latinh (nơi một số người coi gần giống như mô hình quan liêu – độc tài) và ở cả Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan, Nigeria và Hàn Quốc.
Chế độ độc tài mang tính cá nhân là nhóm thứ ba, đa dạng hơn trong hệ thống các nền phi dân chủ. Đặc điểm phân biệt một chế độ độc tài mang tính cá nhân là ở chỗ vị lãnh đạo đó là nguồn của quyền hành và ở chỗ quyền lực phụ thuộc vào việc tiếp cận tới vị lãnh đạo này, sự gần gũi với vị này, sự phụ thuộc vào vị này, và sự ủng hộ của vị lãnh đạo này. Nằm trong phân loại này gồm có Bồ Đào Nha dưới thời António Salazar và Marcello Caetano, Tây Ban Nha dưới thời Francisco Franco, Philipin dưới thời Ferdinand Marcos, Ấn Độ dưới thời Indira Ghandi, và Rô-ma-ni-a dưới thời Nicolae Ceausescu. Độc tài mang tính cá nhân có rất nhiều nguồn gốc khởi nguyên. Những vị độc tài ở Philipin và Ấn Độ là kết quả của đảo chính ở cấp độ hành pháp. Độc tài ở Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha bắt đầu bằng các cuộc đảo chính quân sự (trong đó, ở trường hợp của Tây Ban Nha, sau đó dẫn đến chiến tranh dân sự) với những kẻ độc tài lần lượt thiết lập cơ sở quyền lực độc lập với quân đội. Tại Rô-ma-ni-a, độc tài mang tính cá nhân sinh ra từ chế độ một đảng. Chi-lê dưới thời Augusto Pinochet khởi đầu là một chế độ quân sự nhưng trong thực tế dần trở thành độc tài mang tính cá nhân do sự nắm quyền kéo dài của ông này và những bất đồng cũng như vị thế thống trị của ông với các lãnh đạo của giới quân sự. Một vài độc tài mang tính cá nhân như Marcos và Ceausescu, như Anastasio Somoza, François Duvalier, Sese Seko Mobutu, và vua Iran, là những ví dụ điển hình cho mô hình của Weber về các chế độ sultanic đặc trưng bởi quyền bổ nhiệm, ưu đãi, quan hệ và tham nhũng.
Chế độ một đảng, chế độ quân sự, và độc tài mang tính cá nhân đè nén cả tính cạnh tranh và sự tham gia. Hệ thống của Nam Phi khác những chế độ này ở chỗ hệ thống này về cơ bản là chính thể đầu sỏ theo chủng tộc với hơn 70 phần trăm dân số bị loại khỏi chính trị nhưng với tính cạnh tranh chính trị tương đối căng thẳng xuất hiện trong cộng đồng các quan chức chính phủ người da trắng. Kinh nghiệm từ lịch sử cho thấy dân chủ hóa diễn ra dễ dàng hơn nếu cạnh tranh mở rộng trước khi có sự tham gia.[2] Nếu đây là trường hợp đó, triển vọng cho một kết cục dân chủ hóa thành công ở Nam Phi là cao hơn so với các nước có các dạng thức khác của hệ thống độc tài. Quá trình diễn ra ở Nam Phi, ở một mức độ nào đó, giống với các quá trình dân chủ hóa ở thế kỷ 19 tại châu Âu trong đó đặc điểm trung tâm là sự mở rộng quyền đi bỏ phiếu bầu cử và sự thiết lập một chính thể chính trị mang tính đại diện rộng hơn. Trong những trường hợp này, sự loại trừ dựa trên các cơ sở kinh tế, chứ không phải trên cơ sở chủng tộc. Tuy nhiên, trong lịch sử, các hệ thống công xã theo thứ bậc thường có tính kháng cự rất cao trước thay đổi mang tính hòa bình.[3] Cạnh tranh trong hệ thống chính thể đầu sỏ do đó thuận lợi hơn cho quá trình dân chủ hóa thành công của Nam Phi; khái niệm chủng tộc của chính thể đầu sỏ này đã tạo ra vấn đề cho quá trình dân chủ hóa.
Các chế độ cụ thể không phải luôn luôn hợp sít sao vào một trong những phân loại cụ thể kể trên. Ví dụ vào đầu thập niên 1980, Ba Lan là tổng hợp của các yếu tố của một chế độ một đảng đang bị mọt ruỗng và của một chế độ dựa trên quân đội trong tình trạng thiết quân luật đứng đầu là một sĩ quan quân đội và người này cũng đồng thời là tổng bí thư Đảng Cộng sản. Chế độ cộng sản của Rô-ma-ni-a (cũng giống như ở Hàn Quốc) khởi đầu là chế độ một đảng nhưng đến những năm 1980 đã tiến sang hình thức độc tài mang tính cá nhân sultanic.
Bảng 1: Chế độ Độc tài và Quá trình Tự do hóa/Dân chủ hóa, 1974–90
   Chế độ
 Quá trình Một đảng Cá nhân Quân sự Đầu sỏ dân tộc
Chuyển đổi
(Transformation)
(Đài Loan)[a]
Hungary (Mê-hi-cô)
(Liên Xô)
Bulgaria

Tây Ban Nha
Ấn Độ
Chi-lê
Thổ Nhỹ Kỳ
Brazil
Pê-ru
Ecuador
Guatemala
Nigeria[*]
Pakistan Sudan[*]
 
 16  5  3  8  
Chuyển dịch (Transplacement) Ba Lan
Séc và Slôvakia Nicaragua
Mông Cổ
 (Nê-pan) Uruguay
Bô-li-vi-a
Honduras
El Salvador
Hàn Quốc    
(Nam Phi)
 11  4  1  5  1
Thay thế
(Replacement)
Đông Đức Bồ Đào Nha Phi-lip-pin
Rô-ma-ni-a
Hy Lạp Ác-hen-ti-na  
 6  1  3  2  
 Can thiệp  Grenada    (Panama)  
 2  1    1  
 Tổng số            
 35  11  7  16  1
Ghi chú: Nguyên tắc cơ bản của dân chủ hóa là việc lựa chọn chính phủ thông qua bầu cử cởi mở, cạnh tranh, mang tính tham gia đầy đủ, và được điều hành nhẹ.
a. Dấu ngoặc đơn chỉ một đất nước có giải phóng nhưng không dân chủ cho tới năm 1990.
* Chỉ một nước đảo ngược lại trở thành độc tài.
________________________
[1] Xem G. Bingham Powell, Jr., Các nền dân chủ đương đại: Tham gia, Ổn định, và Bạo lực (Cambridge, MA: Nhà xuất bản trường Đại học Havard, 1982), chương 5–9; Juan J. Linz, “Hiểm họa của hình thức tổng thống”, Tập san Dân chủ 1 (mùa Đông 1990): 51–69.
[2] Robert A. Dahl, Đa nguyên trị (Polyarchy): Tham gia và Chống đối (New Haven: Nhà xuất bản trường Đại học Yale, 1971), 33–40.
[3] Xem Donald L. Horowitz, “Ba Chiều của Chính trị Dân tộc”, Chính trị Thế giới 23 (tháng Giêng 1971): 232–36; Samuel P. Huntington và Jorge I. Domínguez, “Phát triển Chính trị” trong Fred I. Greenstein và Nelson W. Polsby biên tập, Sổ tay Khoa học Chính trị, quyển 3 (Sách đọc, MA: Addison-Wesley, 1975), 74–75.

Chủ Nhật, 15 tháng 12, 2013

Dân chủ là gì và thế nào trong hoàn cảnh Việt Nam*

Cao Huy Thuần
Giáo sư émérite Đại Học Picardie (Pháp)


Các Anh Chị thân mến, chung quanh tôi, chung quanh chúng ta, hầu như bây giờ ai cũng nghĩ rằng dân chủ là không tránh được trước sức ép của tình thế, từ bên ngoài, từ bên trong, từ đời sống, từ cuộc chơi bắt buộc với thế giới. Nghĩ như vậy chỉ đúng một nửa. Nửa kia là phải nghĩ như thế này: không tránh được, cho nên phải chủ động đi tới. Chủ động là nắm dao đằng cán. Thụ động là nắm dao đằng lưỡi. Càng ngày, chung quanh chúng ta, tiếng nói chủ động đó càng bức thiết. Bây giờ, ta nghe nói: chậm trễ không phải chỉ là tụt hậu, chậm trễ là chết. Mà chậm trễ chết người nhất là chậm trễ tư duy. Vấn đề bây giờ không còn là níu kéo mô hình cũ nữa; vấn đề là bứt ra như thế nào. Hội thảo năm nay suy nghĩ trên đề tài đó.
Tôi sẽ không lặn lội trong lý thuyết viễn vông. Cũng không đuổi theo những con bướm dân chủ bên trời Âu, trời Mỹ. Rất thực tế, tôi lý luận trong hoàn cảnh đặc thù Việt Nam, nhắm cái tối thiểu, tránh mơ ước vô tích sự. Nói cho rõ hơn, tôi chỉ làm cái việc hỗ trợ lý thuyết cho những ý nghĩ đã có sẵn ở trong nước - những ý nghĩ mà tôi cho là có tính khả thi nhất. Chúng ta không cần sáng tạo, mà cũng chẳng sáng tạo gì được đâu, bởi vì, trong chuyện dân chủ này, thực tế trong nước đã sáng tạo cả rồi, chỉ thiếu ý muốn ở chóp bu thôi. Tôi chỉ thêm chút lý thuyết màu mè - gọi là để góp vui với trong nước.
Trong tinh thần đó, tôi không muốn bắt đầu với định nghĩa về dân chủ như vẫn thường học trên ghế nhà trường: dân chủ là "quyền của dân". Vẫn biết democracy thoát thai từ cội nguồn Hy Lạp, với kratia là quyền và demos là dân, tôi sợ định nghĩa này đã trở thành quá khuôn sáo, trừu tượng, cho phép mọi cái lưỡi gỗ ba hoa chích chòe từ hồi dân vi quý cho đến ngày nay. Cũng từ tinh túy Hy Lạp, tôi muốn rút ra một lập luận thực tiễn hơn mà tôi nghĩ là thích ứng hơn cho việc mở đầu dân chủ ở Việt Nam. Tinh túy đó là gì?
 

Dân chủ là lời nói

Trả lời câu hỏi trên, các nhà sử học về cổ Hy Lạp nhấn mạnh trên một chữ nằm tận trong thâm sâu của tư tưởng cổ Hy Lạp, trong kịch, trong thực tiễn sống động của tổ chức dân chủ ở Athènes, trên chính nhan đề quyển sách của Platon: dialogue, đối thoại. Khác với La Mã, tư tưởng Hy Lạp không thiên về luật pháp chính xác mà chú trọng lời nói (logos) và tranh luận. Tinh túy của dân chủ nằm gọn trong câu xướng mở đầu tranh luận của viên chức điều hành các buổi họp công cộng trong nền dân chủ trực tiếp Athènes: "Ai muốn phát biểu?" Trong ecclesia - hội đồng dân chúng - ai cũng có quyền phát biểu và phát biểu tự do. Tranh luận đưa tới quyết định về mọi vấn đề, vì dân chủ trực tiếp thì không thông qua đại diện.
"Ai muốn phát biểu?", cả hai ý niệm căn bản của dân chủ nằm trong câu xướng lễ nghi đó: tự do và bình đẳng. Ai cũng có quyền phát biểu ngang nhau; không ai bị trở ngại khi phát biểu. Sau này, các tác giả lớn vạch ra mâu thuẫn giữa bình đẳng và tự do, và giải quyết vấn đề tùy theo ý thích của mình thiên về điều này hay điều nọ. Montesquieu, thiên về tự do, cho rằng điều mà dân chúng thích nhất trong dân chủ là bình đẳng. Tocqueville, tiếp diễn quan niệm ấy, định nghĩa dân chủ là ý muốn không bao giờ thỏa mãn được của người dân về bình đẳng, càng bình đẳng càng muốn bình đẳng hơn. Cả hai tác giả, sợ bình đẳng sẽ giết chết tự do, vạch ra một hệ thống chính trị để bảo vệ tự do trước cao trào bình đẳng dân chủ của cuối thế kỷ 18 bước sang nửa đầu thế kỷ 19.
Trong tư tưởng cổ Hy Lạp, tự do và bình đẳng không trái ngược nhau. Cả hai được nối kết chặt chẽ với nhau bằng hai ý tưởng căn bản trong hệ thống dân chủ của Athènes: isonomia và isegoria. Mỗi công dân là ngang nhau (isos) với các công dân khác trước luật pháp (nomos) và trước agora, nơi mà người ấy có thể phát biểu và phát biểu tự do. Như vậy, chính bình đẳng lại là điều kiện để tạo ra tự do, điều kiện của tự do.
Tất nhiên cả hai không thể lẫn lộn với nhau: tự do và bình đẳng là hai ý niệm độc lập. Bình đẳng chiếm vị thế rất quan trọng trong tư tưởng Hy Lạp, nhất là trong tư tưởng Aristote. Nhà đại triết gia này dùng ý niệm bình đẳng để xây dựng nên cả quan niệm của ông về luật, về công bằng, công lý. Ông định nghĩa công bằng là "trả lại cho mỗi người phần mà người ấy phải có". Nghĩa là không nên hiểu bình đẳng một cách máy móc, toán học, mà phải dựa trên tỷ lệ đối xứng, tương ứng với điều kiện khác nhau của mỗi người. Chia cái bánh ra hai phần bằng nhau cho một người đang chết đói và một người no kềnh hông không phải là phân chia bình đẳng. Chia hai phần không bằng nhau lại là công bằng, và công bằng đó bảo đảm cho bình đẳng. Như vậy, bình đẳng không nên hiểu theo nghĩa tuyệt đối; hiểu như thế thì bình đẳng giết chết bình đẳng. Trong chế độ chính trị ở Athènes, bình đẳng được hiểu theo nghĩa tương đối và thực tế bằng cách đối chiếu với tự do và với luật pháp. Bình đẳng là ngang nhau trước việc tự do phát biểu và trước việc tuân thủ luật pháp của mọi công dân. Bởi vậy luật không trái với tự do vì luật đã được bàn cãi và biểu quyết trong phiên họp giữa những công dân tự do ngang nhau. Luật đó cũng không phải là cưỡng bức mà chính là để bổ túc, bảo đảm cho tự do. Chính thể ở Athènes là dân chủ chính vì nhờ biết dung hòa khéo léo giữa luật (vốn được xem là phương tiện cưỡng bách) và lời nói, thể hiện qua phát biểu tự do và ngang nhau của mọi công dân. 
Dĩ nhiên, trên thực tế, Athènes vẫn chưa phải là một nền dân chủ thuần túy và hoàn hảo. Không thuần túy, vì bình đẳng trên lý thuyết không che dấu được bất bình đẳng trên thực tế giữa giàu nghèo, sang hèn, giỏi dở... Trên thực tế, Périclès, Cléon, Cléophon... quá xuất sắc để không chiếm giữ tinh hoa lãnh đạo. Không hoàn hão, vì giới giàu vẫn thống lĩnh đời sống công cộng và vì chế độ nô lệ gạt bỏ ra ngoài lề chính trị chín phần mười dân số Athènes. Nhưng giữa giới ưu tú lãnh đạo với nhau, cũng như giữa mọi người dân, không ai làm kẻ bàng quan thụ động, tất cả mọi người đều chất vấn nhau, tranh thủ nhau, dù quyền hành trên thực tế có lọt vào tay thiểu số đi nữa, giới này cũng phải thường xuyên đối mặt với phê bình, chỉ trích, bác bỏ, phải thường xuyên tìm đồng minh, hậu thuẫn. Hơn nữa, vì hầu hết chức vụ chính trị đều được giao phó bằng cách rút thăm, ai cũng bình đẳng trước công vụ, và bình đẳng này gần như tuyệt đối. Tự do cũng vậy, tranh luận là thực sự và tích cực, ngay cả Périclès tài ba thao lược, chiếm lĩnh vũ đài chính trị trong ba mươi năm, cũng phải tìm sự ủng hộ của mọi người để được tái nhiệm hàng năm vào chức vụ chiến lược và vẫn bị truất phế như thường khi thua trận ở Péloponèse.
Ngày nay, không thiếu gì lý thuyết gia viện dẫn thực tiễn dân chủ ở cổ Hy Lạp để thuyết minh rằng trong bất kỳ chế độ dân chủ nào, kể cả trong chế độ dân chủ trực tiếp ở Athènes, luật thép vẫn là thiểu số nắm thực quyền, dù cho dân chủ vẫn được công nhận là quyền của dân. Khi các nhà lập quốc Hoa Kỳ soạn thảo hiến pháp, họ tranh cãi với nhau rất găng trên vấn đề này, vì một mặt họ muốn thực hiện quyền của dân, một mặt họ lại rất sợ "dân" không đủ sáng suốt, trao số phận của mình vào tay những kẻ mỵ dân, giảo hoạt. Dù sao đi nữa, dù thực tế ở đâu cũng nổi bật lên hiện tượng thiểu số nắm thực quyền, bài học mà ta có thể rút ra từ Athènes, nghĩa là từ cội nguồn của dân chủ Tây phương, là sự quan trọng của lời nói, của đối thoại được tổ chức một cách bình đẳng, tự do. Dân chủ là một chế độ trong đó công dân thực sự có quyền chỉ trích, chất vấn trực tiếp và tự do thiểu số nắm quyền trong thực tế. Tinh túy của dân chủ ở Athènes là isegoria, quyền nói ngang nhau và sự sử dụng tự do quyền đó trên thực tế. Giữa ông tướng lĩnh sáng chói Périclès và một người thường, không ai hơn ai trong quyền nói, ai cũng có thể đề nghị truất ông mà không chút sợ hãi gì.
Với định nghĩa này, tôi nghĩ rằng con đường dân chủ trước mắt chúng ta sẽ được vạch ra rõ ràng hơn. Đồng thời, như ta vừa thấy, nó cũng giúp ta khỏi phải đi vào những luận bàn dằng dai cả về lý thuyết lẫn về thực tiễn chính trị do định nghĩa "quyền của dân" mang lại. Nước Mỹ tự hào với câu nói bất hủ của Lincoln "quyền của dân, do dân và vì dân": đâu là "quyền", đâu là "dân", quyền của ai, dân thế nào? Các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã phải giải quyết vấn đề trong cả hai vế: người nắm quyền thực sự không phải là dân mà là đại diện của dân; đại diện đó không bị ràng buộc về pháp lý phải hỏi han ý kiến gì của dân giữa hai bầu cử. Ngày nay, trong tất cả các nước Tây phương, kể cả Mỹ, dân chủ bị khủng hoảng trên cả hai khái niệm: khái niệm đại diện, vì sự xa cách hững hờ giữa giới chính trị và quần chúng; khái niệm tham gia, vì dân chúng càng ngày càng thờ ơ với chính trị, kể cả với cái thùng phiếu. Ấy là chưa kể mâu thuẫn nội tại giữa đại diện và tham gia. Dân không tham gia, sao gọi là dân chủ? Dân tham gia nhiều quá thì trực tiếp cai trị mất rồi, còn gì là đại diện? Trong học thuyết, tranh cãi có bao giờ dứt đâu trên vấn đề này? Người thì nói: phải làm mọi cách để dân chúng tham gia vào việc công, nếu không thì dân chủ sẽ tự chết. Người thì nói: nguy quá, ngày nay giới cầm quyền không cai trị được nữa vì phải thường xuyên để ý đến dư luận phát biểu qua truyền thông, qua các hãng thăm dò lòng người, dân chủ quá nhiều như vậy sẽ giết chết dân chủ. Từ tranh biện đó, dân chủ ở Athènes lại được dẫn ra để nói rằng: nguy quá, ngày nay truyền thông và thăm dò dư luận đã đóng vai trò của dân ở cổ Hy Lạp - vai trò mà Aristote đã muốn tránh, vai trò cai trị trực tiếp - khiến cho nhà cầm quyền phải thường xuyên chạy theo thị hiếu, trở thành mỵ dân, chẳng còn chính sách gì rõ ràng nữa.
Trong tình trạng khủng hoảng đó của Tây phương, trở lui về lại với tinh túy Hy Lạp giúp ta có một lập luận khác về dân chủ không đóng khung trong cách hiểu qua kinh nghiệm của các nước phương Tây từ thế kỷ 18. Tất nhiên, tư tưởng và kinh nghiệm của Tây phương là vô cùng quý, và định nghĩa "quyền của dân" vẫn còn mãi giá trị, nhưng nếu hoàn cảnh Việt Nam bắt buộc ta phải khởi hành từ một khởi điểm khác, tại sao không suy nghĩ một cách khác hợp với ta hơn mà vẫn không trái với Tây phương?
 
Dân chủ là tranh luận công cộng
Từ lâu, thực tiễn isegoria đó của Hy Lạp cổ đại cứ lảng vảng trong đầu tôi, nhưng tôi vẫn còn vấn vương với mô hình dân chủ của thế kỷ 18. Bỗng nhiên tôi vớ được quyển sách nhỏ xuất bản năm ngoái (2005) tại Pháp của Amartya Sen, người Ấn, giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1998. Nhan đề quyển sách là "La démocratie des autres", dịch từ những bài viết và nói chuyện của ông bằng tiếng Anh.  Sách nhỏ, nhiều chỗ tôi không đồng ý, nhưng tác giả bắc cho tôi một nhịp cầu nối kết giữa tư tưởng Hy Lạp và những văn minh khác. Ông chứng minh: tinh túy của Hy Lạp cũng là tinh túy của nhân loại; ở khắp nơi, tư tưởng nào cũng gặp nhau trên cùng một quan niệm về dân chủ. "Democracy isn't western", dân chủ không phải là của Tây phương, đó là luận thuyết của ông và cũng là nhan đề của bài viết gần đây nhất đăng trên tờ báo Wall Street Journal (24-3-2006). Tôi tóm tắt dưới đây luận thuyết đó.
Theo tác giả, ngày nay không ai chối cãi rằng bầu cử là phương tiện quan trọng, hữu hiệu, để thực hiện dân chủ, nhưng phải hiểu tại sao. Tại vì bầu cử là dịp để nói, để tranh luận. Bởi vậy, điều quan trọng là tranh luận, là nói, chứ không phải chỉ là hành động bỏ lá phiếu vào thùng. Trong đời sống công cộng, đâu có phải lúc nào cũng là bầu cử, nhưng lúc nào người dân cũng phải lựa chọn, lựa chọn trong mọi lĩnh vực, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa... Sống là lựa chọn, trong mọi hành động: mua bán, chợ búa, ăn uống, giải trí... Làm sao lựa chọn giữa hai món hàng, hai cuốn phim, nếu không được nghe nói, nghe bàn cãi, nghe thông tin từ nhiều nguồn khác nhau? Trên chóp bu Nhà nước cũng vậy, làm sao lấy quyết định cho đúng nếu không nhận được thông tin đầy đủ từ nhiều phía, nghe nhiều ý kiến khác nhau giữa các người cố vấn? Giá trị của sự lựa chọn tùy ở giá trị của tranh luận. Mà tranh luận thì thường xuyên diễn ra trong đầu mỗi người, bởi vì bất cứ lúc nào cái đầu cũng phải lựa chọn. Tranh luận nghèo nàn thì cái đầu nghèo nàn, lựa chọn nghèo nàn - cái đầu của mỗi người cũng như cái đầu của toàn thể. Làm sao để tranh luận được phong phú, tự do, đa dạng: đó là tinh hoa của dân chủ.
Amartya Sen chứng minh rằng tất cả các nền văn minh trên thế giới - Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Iran, Thổ, các nước Ả Rập cũng như Phi châu - đều có truyền thống tranh luận công cộng, nhất là ở tầm mức địa phương. Ông thích trích dẫn câu viết của cựu Tổng thống Nam Phi, Nelson Mandela, trong quyển sách tự truyện "Con đường dài đưa đến tự do" của người cựu tù nhân danh tiếng này: "Bất cứ ai muốn phát biểu đều có thể nói. Đó là dân chủ trong hình thức thuần túy nhất. Có thể không tránh khỏi tình trạng đẳng cấp giữa vị trí quan trọng của người phát biểu này với người kia, nhưng dù là lãnh tụ hay dân thường, tướng tá hay thầy thuốc, buôn bán hay nông dân, địa chủ hay tá điền, người nào cũng được nói... Chính đó là nền tảng của tự chủ: tất cả moi người đều được tự do phát biểu ý kiến của mình và tất cả đều bình đẳng như là công dân". Đó là truyền thống dân chủ mà ông Mandela chứng kiến lúc còn nhỏ trong cộng đồng xã hội của ông. "Con đường dài đưa đến tự do" của ông đã bắt đầu, không phải từ quan niệm tự do của Tây phương, mà từ một quan niệm tự do của chính quê hương ông. Thủ tướng Nehru cũng vậy, khi soạn thảo Hiến pháp cho Ấn Độ vừa độc lập, đã nhấn mạnh tầm quan trọng của khoan dung trong truyền thống của vua Ashoka và vua Mông Cổ Akbar.
Khoan dung: đó là thực tiễn xã hội tìm thấy trong các nền văn minh ngoài Âu châu, cơ sở của tranh luận công cộng. Ngày nay, dân Do Thái bất cộng đái thiên với thế giới Ả Rập, nhưng ngày xưa họ đã sống bình thường dưới chính quyền Ả Rập ngự trị trên cả Tây Ban Nha thời trung cổ: vùng Andalousie ả rập để lại lịch sử một văn hóa khoan dung, trái ngược với lịch sử bất khoan dung của Âu châu, nhất là trên lĩnh vực tôn giáo. Hơn ai hết, văn hóa Phật giáo đặc biệt đề cao tranh luận và khoan dung, chống lại lòng tin thiếu kiểm chứng, thiếu tự chủ, kể cả tin vào lời Phật. Ashoka (A Dục) ở Ấn Độ, Shotoku (Thánh Đức) ở Nhật Bản là những vị vua Phật giáo đã để lại một "hiến pháp" dân chủ mà hậu thế còn khâm phục.
Ngày nay, dưới vầng ánh sáng dân chủ của Tây phương, ta quên mất đi các văn minh cổ của mình và của các vùng khác, quên rằng văn hóa tranh luận chính là văn hóa của ta, quên rằng văn hóa đó đã làm phát triển rực rỡ sự trao đổi kỹ thuật và tư tưởng giữa Ấn Độ và Trung Quốc, giữa Hy Lạp, Ấn Độ và các nước Ả Rập, Ba Tư, làm nảy nở kỳ diệu kiến thức khoa học, toán học trong thế giới ả rập, chứng minh câu nói của một chức sắc Hồi giáo hồi thế kỷ thứ 7: "Không có tài nguyên nào mang đến nhiều lợi lộc hơn là trí óc" và "không có một sự khép kín nào mang đến nhiều đổ nát hơn là sự tự mãn". Ngày nay, cũng dưới ảnh hưởng của Tây phương, nhiều nước muốn phát triển kinh tế thật nhanh, gạt bỏ qua một bên lịch sử trí thức của chính mình. Là kinh tế gia được giải Nobel, Amartya Sen viết sách, viết báo để quảng bá luận thuyết của ông: bao nhiêu kinh nghiệm trên thế giới cho biết rằng điều cần thiết để thúc đẩy phát triển kinh tế không phải là một chính thể cứng rắn hơn mà chính là một không khí kinh tế nhân bản hơn. Kinh nghiệm của Ần Độ hiện nay so với Trung Quốc là một bài học đáng suy ngẫm.
Hiểu dân chủ như thế, nghĩa là "chính thể do tranh luận", giúp ta thấy cội rễ dân chủ không phải chỉ nằm trong đất Tây phương mà nằm ngay trong văn minh của ta, và đồng thời giúp ta gạt bỏ một lầm lẫn lớn về khái niệm, cứ xem dân chủ qua cái thùng phiếu mà thôi. Thời ông Diệm, tôi đã từng đi bầu cử dưới phương châm sáng chói "mỗi lá phiếu là một viên đạn bắn vào đầu kẻ thù". Bỏ phiếu mà thiếu tranh luận tự do thì đúng y chang rằng mỗi lá phiếu là một viên đạn thông minh bắn vào đầu mình. Đừng nghĩ rằng chỉ có những đại trí thức mới hiểu được đại tư tưởng đó, còn dân nghèo chiếm đại đa số trong các nước nghèo mạt thì chỉ trông được chính phủ cho ăn cơm no bụng thôi, không cần ăn tranh luận, vốn là sâm nhung của bọn nhà giàu. Tác giả triệt để chống lại lý luận đó - lý luận đã làm tiền đề cho các chính thể cứng rắn, cho rằng phải cứng rắn mới hiệu quả, mới làm kinh tế cất cánh lên được. Ông đưa ra một kinh nghiệm lý thú của Ấn Độ hồi 1970. Chính phủ Ấn lúc đó dùng một lý luận tương tự để ban hành tình trạng khẩn trương và loại bỏ một số quyền chính trị đã áp dụng từ trước. Nghĩ rằng lý luận đó ăn khách, nhất là ăn khách nghèo, chính phủ ấy tổ chức bầu cử, và bầu cử ngay trên đề tài đó. Cử tri Ấn - nghĩa là cử tri nghèo mạt nhất thế giới - đã cho chính phủ đó đo ván. Họ phản đối việc loại bỏ tự do và những quyền chính trị căn bản hăng hái không kém gì phản đối những điều kiện kinh tế đưa đến nghèo đói.
Sách của ông Sen mỏng, nhưng tiếng nói của ông mới. Ông là một người trí thức chứ không phải chỉ là kinh tế gia. Kiến thức của ông bao gồm nhiều lĩnh vực khác: văn hóa, triết lý, tư tưởng... Ông học Tây, học Mỹ, nhưng biết chọn cái tốt của người, biết thấy cái hay của mình. Ông xuất thân từ nước nghèo, làm việc tại nước giàu, lãnh nhiệm vụ rất cao trong một trường đại học danh tiếng bậc nhất, Cambridge. Và trên hết, có ý nghĩa hơn cả trong giai đoạn hiện tại này, ông là người Ấn, khiến ta liên tưởng đến công việc thích thú bậc nhất hiện nay là so sánh kinh nghiệm của Ấn Độ và của Trung Quốc. Nước ta có cái may mắn nằm giữa hai văn minh lớn, một văn minh đến từ đất, một văn minh đến từ biển. Là nơi hội tụ, tiếp thu, tiêu hóa và triển khai của nhiều nguồn văn hóa khác nhau, sao ta cứ mãi theo đuôi kinh nghiệm của một phương? Phương ấy đã chẳng từng đón nhận tư tưởng mới do Huyền Trang mang về từ bên kia sa mạc hay sao? Nơi văn minh của ta đâu phải chỉ có tam tự kinh là rình cơm nguội? Căn bản tư tưởng của ta chẳng phải là khoan dung đó sao? Mà hậu quả của khoan dung là gì? Là văn hóa đình chùa, là chấp nhận lẫn nhau, là khuyến khích tranh luận trong ôn hòa, tự chủ, thẳng thắn. Trong hoàn cảnh ngày nay, đó chẳng phải là cái hướng để ta nhắm đến hay sao? Huống hồ mọi yếu tố đã hội đủ, chỉ thiếu cái ý muốn thôi!

 

Dân chủ thế nào?

Trong bài "Đóng góp ý kiến vào báo cáo tổng kết lý luận và thực tiễn hai mươi năm đổi mới", nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt viết: "Về công thức Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, chúng ta cũng đã từng đưa ra từ rất lâu, ngày nay vẫn được nhắc lại như cũ. Nếu không làm rõ nội hàm của những mối quan hệ đó thì vẫn lâm vào tình trạng nói một đường, làm một nẻo. Chúng ta tiếp tục lúng túng và khó tránh khỏi sẽ lại phạm vào những sai lầm trong việc đảm bảo quyền làm chủ thực sự của nhân dân, trong khi thường xuyên nói đến cái công thức kể trên như một cách để nói, chứ không phải nói để làm, nói vậy mà không phải vậy. Thực chất nội dung của công thức đó chính là đảm bảo được dân chủ trong Đảng, xây dựng được Nhà nước pháp quyền vững mạnh, phát huy quyền tự do dân chủ của mọi công dân đã được quy định trong Hiến pháp của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam".
Tất cả giải pháp chính trị nằm sẵn đầy đủ trong đó. Tôi chẳng làm việc gì khác hơn là triển khai đoạn văn ấy dưới ánh sáng của định nghĩa dân chủ đã nói ở trên. Cách đây gần 20 năm, hồi mới bắt đầu chính sách "đổi mới", tôi đã có viết một bài nhan đề "Lãnh đạo và làm chủ" để chứng minh rằng hai khái niệm đó mâu thuẫn nhau ngay cả trên lý thuyết. Anh "lãnh đạo" tôi, tôi "làm chủ" anh: nói tới nói lui từ đây cho đến tận thế, lý luận cũng chỉ có thể luẩn quẩn loanh quanh như con kiến trong trào phúng của dân gian: con kiến mày leo cành đa, leo phải cành mục leo ra leo vào... Bây giờ, nếu ta tạm gác qua một bên định nghĩa dân chủ là "quyền của dân" để hiểu dân chủ như "chính thể do tranh luận", may ra có thể giải quyết mâu thuẫn đó chăng.
Hãy bắt đầu với thực tế trước mắt: đảng độc quyền lãnh đạo. Tôi chấp nhận thực tế đó, tuy rằng chẳng ai giải thích được cho tôi, một cách thuyết phục, "lãnh đạo" là gì. Lại thêm một "tuy rằng" này nữa không kém hóc búa: tuy rằng tôi vẫn nghe quen tai khẩu hiệu "đảng ta là đảng cầm quyền". Nếu khái niệm "lãnh đạo" khác khái niệm "cầm quyền" thì nhiệm vụ của đảng là gì? Là cầm quyền hay lãnh đạo? Nếu khái niệm "lãnh đạo" đồng nghĩa với "cầm quyền" thì tại sao phải nói lãnh đạo làm gì cho lúng túng? Cứ nói cầm quyền như mọi đảng trên thế giới chẳng phải dễ hiểu hơn sao? Nhưng dù "lãnh đạo" là thế này hoặc thế kia, tình trạng độc quyền không thể nào không thiết lập một mối quan hệ trực tiếp, chặt chẽ và hai chiều giữa đảng với dân. Nếu đảng chỉ lãnh đạo đảng - như các đảng trong các nước đa đảng - thì chỉ đảng viên có liên quan đến sinh hoạt nội bộ của đảng, nhưng ở đây đảng lãnh đạo dân thì làm sao có thể nói rằng chỉ đảng viên thôi, còn dân thì không được biết gì đến nội bộ của đảng? Ngay cả cựu Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu mới đây cũng than phiền là đảng "chưa xây dựng được thiết chế để nhân dân tham gia giám sát đảng viên và giám sát Đảng". Tôi chưa dám đi đến mức đó, chỉ lấy lý luận thông thường ra mà quả quyết rằng dân phải có quyền "biết đến", nghĩa là phải có quyền tham gia gián tiếp vào nội bộ của đảng. Nếu không thì hóa ra đảng đó chẳng có chút liên hệ gì với dân! Tham gia là thế nào? Tham gia để làm gì? Để làm chủ! Tương quan biện chứng giữa "lãnh đạo" và "làm chủ" nằm ở đây. Vì chính ở đây ý nghĩa của "dân chủ là tranh luận" hiển hiện sáng tỏ như ban ngày.  
Tranh luận, trước hết là tranh luận trong đảng. Đảng độc quyền không có nghĩa là đảng không biết tranh luận, không có tranh luận. Ngược lại, phải nói rằng chính vì đảng độc quyền cho nên đảng lại càng không sợ tranh luận. Tranh luận trong gia đình, trong anh em đồng chí với nhau, chứ có phải tranh luận với kẻ thù đâu mà sợ? Có ai gạt mình ra đâu, mình yên tâm trong địa vị độc quyền của mình, vậy thì mình sợ ai mà không tranh luận thẳng thắn, tự do với nhau? Có điều là, bởi vì đảng "lãnh đạo" dân cho nên dân phải được theo dõi tranh luận đó, nghĩa là tranh luận đó không được khép kín như là chuyện nội bộ của đảng mà phải công khai trước dân, trước dư luận. Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh không thể nào tự xem mình và để cho kẻ khác xem như là một hội kín. Hội kín thì chỉ đóng cửa chơi với nhau ở bên trong, sao có thể "lãnh đạo" ở bên ngoài? Đã nói "lãnh đạo" thì phải mở; đã mở thì tranh luận công khai là chuyện tất nhiên, nếu không thì lại là kín. Theo dõi tranh luận công khai của đảng là điều kiện tối thiểu nhưng cần thiết để dân thực hiện quyền làm chủ mà chính đảng công nhận, đề nghị, mời gọi.
"Làm chủ" và "lãnh đạo" là hai công việc khác nhau, cũng như dân và đảng viên là hai tư cách khác nhau, cho nên dân không can thiệp trực tiếp vào nội bộ của đảng. Việc bầu cử trong đảng là việc của đảng viên. Đảng viên bầu ra Ban chấp hành trung ương, từ đó bầu ra Bộ Chính Trị, Tổng Bí Thư... Đây là chuyện của đảng viên. Nhưng Tổng Bí Thư, Bộ Chính Trị vv ... lại "đảng ta là đảng cầm quyền", cho nên cũng không thể nói rằng chuyện bầu cử đó chẳng liên quan gì đến dân. Ít nhất, vì dân là "chủ", dân cũng phải biết tại sao, bằng cách nào, vị này được bầu Tổng Bí Thư, vị kia ở trong Bộ Chính Trị. Làm sao biết được, để thực hiện quyền làm chủ, không phải trên đảng, mà là trên nước? Nước là của dân, đâu phải chỉ của đảng viên?
Trong tập tục hiện nay, tất cả các chức vụ của nước, từ Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, thủ tướng, đều xuất phát từ đề nghị của đảng. Vì đảng "lãnh đạo", như thế cũng hợp lý. Nhưng vì dân là chủ, và vì quyền làm chủ được thực hiện qua Quốc hội - cơ quan của nước, chứ không phải của đảng - Quốc hội phải có ý kiến, nghĩa là phải chấp thuận các đề nghị đó. Vấn đề là làm thế nào để dân thấy rằng việc chấp thuận của Quốc hội là có thực, chứ không phải đương nhiên. Mà muốn thế thì chỉ có cách duy nhất thôi là làm thế nào để Quốc hội là Quốc hội thực sự của dân, nghĩa là do dân thực sự bầu lên qua tranh luận công khai, tự do, ít nhất giữa hai ứng cử viên (vì chẳng lẽ ứng cử viên tranh luận với mình hoặc với cái bóng của mình?). Không có điều kiện này thì đừng nói dân làm chủ.
Đến đây, chắc có người sẽ kêu lên: anh này muốn đa nguyên à? Đa đảng à? Thưa không. Tôi hoàn toàn lập luận trên thực tế hiện nay, và hoàn toàn chấp nhận thực tế đó, không đi ra ngoài. Từ đầu cho đến bây giờ, tôi chỉ nói một chuyện thôi là tranh luận, và tôi nghĩ rằng tranh luận là chuyện bình thường trên thế gian này, chuyện của đời sống hàng ngày, chỉ một nơi không có tranh luận mà thôi là nghĩa địa. Tôi cũng chưa đề cập gì đến tranh luận ở ngoài đảng; tôi chỉ mới nói tranh luận ở trong đảng mà thôi, và đây đâu phải là chuyện mới mẻ gì? Có bao giờ mà không có tranh luận trong đảng? Điều duy nhất mà tôi đang làm, và làm trong bối cảnh độc đảng hiện nay, là giải quyết bằng lý luận cái biện chứng khúc mắc giữa "lãnh đạo" và "làm chủ" qua khí cụ phân tích là tranh luận, tức là khí cụ mà ai cũng có nếu có cái đầu.
Vậy thì, trong thực tế độc đảng, hoàn toàn có khả năng có hai ứng cử viên của cùng một đảng. Vấn đề duy nhất ở đây khiến dân phân biệt được thực với giả là hai ứng cử viên có hai ý kiến khác nhau (hoặc không giống nhau như hai giọt nước) tranh luận với nhau thực sự để dân thực hiện quyền làm chủ bằng cách chọn người đáp ứng đúng nhất sở nguyện của mình. Đảng "lãnh đạo" bằng cách cho phép hai (hoặc nhiều) ứng cử viên của mình ra ứng cử trước dân. Dân "làm chủ" bằng lựa chọn. Như vậy là, nói theo nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt, "đảm bảo được dân chủ trong Đảng, xây dựng được Nhà nước pháp quyền vững mạnh, phát huy quyền tự do dân chủ của mọi công dân đã được quy định trong Hiến pháp". Có cái gì mới đâu?
Cái mới, mà chẳng có gì mới, là hai ứng cử viên. Chẳng có gì mới, bởi vì chuyện bình thường nhất trong đời sống này là mỗi giờ, mỗi phút, cái đầu phải lựa chọn, và bảo nó phải chọn giữa một cái thì nó nổi điên. Trong một vở kịch mà tôi được xem cách đây đã lâu, một nhà quý tộc Anh bị đắm tàu, trôi dạt vào một hòn đảo trống trơn với một quần một áo và một người đầy tớ, trên đảo không có gì khác ngoài dừa. Như thường lệ, và theo đúng lễ nghi, sáng hôm sau người đầy tớ khoanh tay cúi đầu mời ông chủ ăn điểm tâm: "Thưa Ngài, Ngài chọn thức uống gì với điểm tâm, trà, sữa, cà phê, ca cao, sô cô la hay là ... nước dừa?" Nghiêm trang, nhà quý tộc đáp: "Nước dừa!" Vô tình, vở kịch diễn một màn "làm chủ" và bầu bán thâm thúy.
Đâu có gì mới! Chỉ cần đọc tiếp bài viết của nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt là đủ thấy vấn đề cũ rích: "Kinh nghiệm lịch sử đã cho chúng ta thấy rằng có rất nhiều trường hợp, một giải pháp từng bị coi là chệch hướng trong một thời gian dài, nhưng sau này lại thấy là đúng. Nhiều giải pháp coi là đúng hướng thì lại vấp phải ách tắc, thất bại". Và nguyên thủ tướng đặt vấn đề: "Vấn đề thực ra có thể là rất cụ thể và sòng phẳng: trên chặng đường trước mắt, thế nào là hướng và thế nào là chệch?" Thế là có sự tranh luận trong đảng với nhau trên vấn đề muôn thuở là "hướng" và "chệch" - nghĩa là trên hai phán đoán. Cai trị, hay "cầm quyền" là chỉ thế thôi: trước hết là vạch hướng. Muốn vạch hướng thì dù cả nhân loại này chỉ còn hai người sống sót thôi cũng phải bàn. Nghĩa là tranh luận. Tranh luận trên hai phán đoán, hai ý kiến, hai cách nhìn, hai phương hướng. Nguyên thủ tướng nói rõ điều đó: "Suy cho cùng những thành tựu cũng như những thất bại mà Đảng gặp phải, dường như phụ thuộc vào hai loại phương pháp tư duy khác nhau": "tư duy tả khuynh, chủ quan, duy ý chí" và "tư duy khách quan, giàu trí tuệ". Tác giả đánh giá: "Hiện nay xu hướng bảo thủ trì trệ xét về số lượng thì không nhiều và tự nó khó có thể là một nguy cơ. Đối trọng với xu hướng đó, những bộ óc có xu hướng đổi mới đúng đắn, muốn bứt phá khỏi những gánh nặng cũ, là một lực lượng không nhỏ." Như vậy là có hai. Hai phương pháp tư duy. Hai xu hướng. Đời sống chính trị bất cứ ở đâu và ở thời nào cũng thế. Có khác chăng là ở đây ta phải lý luận trên tình trạng một đảng. Trong hoàn cảnh đó, quyết định đi theo hướng nào, chệch hay không, xu hướng nào thắng, là quyết định của đảng: đảng "lãnh đạo", đảng vạch hướng như người hoa tiêu. Nhưng trên con tàu bồng bềnh giữa biển khơi, đâu phải chỉ có một mình đảng? Còn có cả dân trong đó! Chuyện sống chết cũng liên hệ đến dân, làm sao dân không có ý kiến gì, không biết gì, trên chuyện tranh luận để vạch hướng của đảng? Làm sao dân không được kêu chệch hướng khi chiếc tàu cứ nhắm vào núi đá mà hồ hởi lướt tới? Chẳng lẽ đến khi nằm trong bụng cá mập rồi dân mới có quyền kêu?
Vậy điều dân muốn là tranh luận trong đảng về "hướng" và về "chệch", về hai xu hướng, phải minh bạch, công khai, để dân biết ý kiến nào là hợp với mình, ý kiến nào không hợp. Ý kiến nào cũng là ý kiến ở trong đảng, từ đảng cả, thì tại sao hai ý kiến khác nhau trong tranh luận của đảng không được trở thành tranh luận của dân qua hai ứng cử viên khác nhau - của đảng cả - trong mỗi cuộc bầu cử Quốc hội? Chỉ có như vậy, và chỉ có như vậy thôi, Quốc hội mới thực hiện được "quyền làm chủ" của dân. Nếu không thì Quốc hội chỉ là Quốc hội xơi nước dừa. Từ Quốc hội được bầu lên như thế qua tranh luận công khai của đảng, thủ tướng sẽ được bầu. Thủ tướng như vậy cũng là của dân mà vẫn là từ đảng. Quốc hội như vậy vẫn là từ đảng mà cũng là của dân. Khó lòng giải quyết biện chứng giữa "lãnh đạo" và "làm chủ" một cách nào khác. Thực sự tôi không nói thêm một điều gì mới, tất cả đều đã nằm sẵn trong bài của nguyên thủ tướng, kể cả vấn đề tranh luận, như khi ông viết: "Cùng nhau chân thành bàn bạc với ý thức trách nhiệm của người cộng sản, mở rộng dân chủ trong tranh luận để nhận thức đúng sai ..." Tôi noi theo gương ông mà thôi.

 

Thêm ý nhỏ

Tôi tạm ngừng ở đây với lý luận ở mức tổng quát, chưa đi vào chi tiết. Mọi chuyện khó khăn là ở bước đầu, ở cái bước khởi ý muốn. Không có ý muốn thì nói gì cũng nghịch tai. Có ý muốn thì lòng mới mở ra để nghe tiếp. Khi đó tôi mới đi vào chi tiết được. Chẳng hạn tôi sẽ nói về bầu cử Quốc hội: có thể bầu cử liền sau đại hội đảng, như nguyên Chủ tịch Trần Đức Lương vừa đề nghị, để tranh luận giữa hai ý kiến trong đó được phản ánh qua thành phần Quốc hội mới. Chẳng hạn vai trò của Mặt Trận Tổ Quốc được suy nghĩ lại, thế nào để cơ quan này trở thành cơ quan có trách nhiệm độc lập trong việc tổ chức ứng cử, bầu cử. Chẳng hạn Chủ tịch nước có thể là Tổng Bí Thư như có lần ông Lê Khả Phiêu đã gợi ý trong một tình thế khác. Và chẳng hạn, tại sao không suy nghĩ theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, "đảng ta là đảng cầm quyền"? Thẳng thắn, sòng phẳng, trung thực, thật với mình, thật với dân, mà lại dễ hiểu, lời nói đi đôi với việc làm. Minh bạch! "Đảng ta là đảng cầm quyền" nghĩa là: đảng ta có quyền cho nên có trách nhiệm. Trách nhiệm luật định, nghĩa là phải theo đúng hiến pháp và luật pháp. Trách nhiệm chính trị, nghĩa là phải chịu phán quyết của dân. Dân không giải tán được đảng vì dân không làm chủ đảng - chỉ đảng viên làm chủ đảng thôi. Nhưng dân có thể thay đổi Quốc hội, Quốc hội có thể bất tín nhiệm thủ tướng. Vì dân là chủ nước. Đảng "cầm quyền", dân "làm chủ". Vì vậy mà Chủ tịch nước là Tổng Bí Thư. Qua Tổng Bí Thư, đảng cầm quyền trực tiếp với cả bộ máy chính trị và hành chánh duy nhất từ trung ương đến địa phương. Nhưng đảng không "cầm" Quốc hội vì Quốc hội là nước mà người chủ là dân. Trên pháp lý, nơi nào có "chủ" nấy. Đảng viên là chủ đảng; dân là chủ Quốc hội. Bởi vì dân là chủ nước. "Đảng ta là đảng cầm quyền", cứ thế mà suy nghĩ, mà hành động, theo đúng khẩu hiệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. "Đảng cầm quyền dân làm chủ » , rõ ràng như thanh thiên bạch nhật. Thêm chữ "lãnh đạo" vào thì lý luận nhất thiết phải đi vòng vo, hết cành đa qua cành đào, và thực tiễn là hai bộ máy quyền lực chồng chéo nhau, không cách gì giải quyết được.
Chắc chắn lại có người sẽ nói: biết quá, hậu ý của anh chàng này là tách đảng ra làm hai, là rốt cuộc cũng đa nguyên đa đảng. Xin thưa: đa nguyên là chuyện bình thường, đang hiện diện cùng khắp trong xã hội, ngăn hay không ngăn cũng thế, và xã hội càng "dân giàu nước mạnh", kinh tế càng "phát triển cao", văn hóa càng "tiên tiến", cuộc sống càng "ấm no tự do hạnh phúc" thì đa nguyên càng nẩy nở, lớn mạnh theo, hiển nhiên đến mức bịt mắt cũng thấy; còn đa đảng thì tôi chưa ham, chuyện đó để tương lai phân xử. Nhưng nếu chuyện đó đến, tốt hơn là nó đến trong ổn định, vì lợi ích của dân và của đảng, từ đảng mà ra. Bao nhiêu người đã chảy nước mắt để nói lên điều này. Tôi chỉ góp thêm giọt nước mắt của người ở xa.
Đảng cầm quyền, dân làm chủ, tranh luận công khai. Đó là minh bạch. Đó là dân chủ. Đích thực.

* Bản duyệt lại của bài phát biểu tại Hội Thảo Hè 2006 “Dân chủ và Phát Triển”, tổ chức tại Berkeley (California, Hoa Kỳ) ngày 28-29/7/2006

Chú thích:
1. Về dân chủ trong Hy Lạp cổ đại, đọc hai cuốn sách của J. de Romilly: La Grèce antique à la découverte de la liberté, Hermann, Agora, 1986; và Problèmes de la démocratie grecque, Hermann, 1975. Tóm tắt rất rõ trong G. Soulier, L'Europe, Armand Colin, 1994.
2. Về tranh luận gần đây tại Mỹ trên vấn đề dân chủ đại diện, "ít" dân chủ hay quá "nhiều" dân chủ, qua đó Aristote và dân chủ ở Athènes được đem ra phân tích lại, xem quyển sách của Loren J. Samons: What's Wrong with Democracy?, The University.of California Press, 2004, và bài viết của Mordecai Roshwald, Democracy and Elite, Modern Age, n° 2, Spring 2003.
3. Về khả năng có hai ứng cử viên, báo chí trong và ngoài nước ghi nhận đặc biệt phát biểu của tân Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng khi lãnh chức vụ mới. Tuy rằng ông nói trong một bối cảnh hoàn toàn khác, cũng như ông Trần Đức Lương dưới đây, phát biểu của ông vẫn có tính cách mở ra đường mới nếu muốn. Ngoài nước, tờ Washington Post (26-6-2006) đăng lại lời ông như sau : "I would totally agree that there should be more than one candidate". Ông Nguyễn Phú Trọng là ứng cử viên duy nhất  vào chức vụ chủ tịch Quốc hội.
4. Về nhiệm kỳ của đại hội đảng và nhiệm kỳ của Quốc hội, ông Trần Đức Lương đã phát biểu như sau trước Quốc hội ngày 26-6-2006, khi từ giã chức vụ chủ tịch nước : "Ban CHTU, Quốc hội điều chỉnh sao cho nhiệm kỳ của Đại hội Đảng và nhiệm kỳ Quốc hội gần nhau, tốt nhất là khớp với từng thời kỳ kế hoạch 5 năm của đất nước" http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/doinoi/2006/06/584995/
5. Về đề nghị của cựu Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu, xem Vũ Quang Việt: Chuyển biến trong lãnh đạo và hệ thống lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam từ sau 1975: Khả năng dân chủ hóa và chống tham nhũng, trong Hội Thảo này. Vũ Quang Việt nhấn mạnh quá trình phát triển của đảng Cộng sản từ một đảng cách mạng đến một đảng chính trị bình thường trong bối cảnh kinh tế tư bản chủ nghĩa.
4. Khả năng tách bạch hai khuynh hướng trong đảng cũng không xa lạ gì với các tác giả, chuyên gia và cố vấn ở Bắc Kinh khi bàn về chuyển đổi chính trị ở Trung Quốc. Xem Joseph Kahn, At a secret meeting, Chinese Analysts Clashed Over Reforms, New York Times, 7-4-2006.
5. Khả năng nổ ra một đột biến đưa đến xáo trộn bất ngờ bao giờ cũng thấy trong lịch sử. Trong một quyển sách xuất bản gần đây về kinh nghiệm Trung Quốc, tác giả Minxin Pei bác bỏ luận thuyết phát triển kinh tế sẽ đưa đến dân chủ, nhưng không từ bỏ khả năng dân chủ xảy ra một cách bất ngờ vì một khủng hoảng có thể nổ ra bất cứ lúc nào do thối nát tích tụ nhiều năm, tham nhũng trầm trọng, quản lý sai lầm, thể chế thoái hóa ... Xem Minxin Pei, China's Trapped Transition. The Limits of Developmentat Autocracy, Cambridge, Harvard University Press, 2006; và Minxin Pei, The Dark Side of China's Rise, Foreign Policy, March-April 2006, (tóm tắt quyển sách, trong đó ông nói rõ: "China's future will be decay, not democracy" ). Cũng xem bài điểm sách của Ellen Bork, China Syndrome. Capitalism does not necessarily lead to democracy, Weekly Standard, n° 35, 2006.
6. Trong biến cố chính trị gần đây ở Thái Lan đưa đến việc dân chúng biểu tình đòi thủ tướng Thaksin Shinawatra từ chức, ông này tố cáo những người chống ông là "chỉ trích vua". Tôi giật mình khi đọc trong báo chí câu tuyên bố của vua Bhumibol: "Nói rằng không được chỉ trích vua là nhục mạ nền quân chủ. Chính vua mong muốn nghe nhiều hơn nữa những lời chỉ trích." (Francis Deron, Roi et citoyen, Le Monde 7-6-2006).
Thảo nào vua Bhumibol được nhân dân Thái yêu quý đến thế.
   
©  Thời Đại Mới