Chú ý Nội Quy Về Bình Luận: 1. Không cho phép quảng cáo trong comment . 2. Xin đọc kỹ tên tác giả trên mỗi bài viết trước khi comment. 3. Phản biện những đúng sai của tác giả và các bình luận viên khác phải dựa vào sự kiện, tài liệu, lý luận.... 4. Mọi thóa mạ cá nhân sẽ bị “XÓA” và vi phạm sẽ bị ghi tên vào danh sách spammers. Thành thực cám ơn.
Phẩm cách có thể biểu hiện ra trong thời khắc quan trọng, nhưng nó lại hình thành trong thời khắc không quan trọng.
Bacon (Anh).
Danh ngôn Sự nghiệp
Hiểu biết giá trị của tiền bạc và luôn biết hy sinh tiền bạc vì bổn phận hoặc vì ý nghĩa, ấy là một đức hạnh thật sự.
Senancourt
Danh ngôn Đối nhân xử thế
Khi bạn không thể thực hiện những gì ao ước, bạn nên ao ước những gì có thể làm.
Terence
Danh ngôn Đạo đức
Không có đạo đức công dân, xã hội sẽ diệt vong; không có đạo đức cá nhân, sự sinh tồn của con người cũng mất đi giá trị. Vì vậy, đối với một thế giới tốt đẹp thì đạo đức công dân và đạo đức cá nhân đều cần thiết như nhau.
Russell (Anh)
Danh ngôn Người kiệt xuất
Vĩ nhân trên thế giới chưa chắc đều là học giả vĩ đại, đồng thời, học giả vĩ đại trên thế giới cũng chưa chắc đều là vĩ nhân.
Holmes (Mỹ)
LTS: Nguyên tựa của tác giả là "Một thoáng nghĩ về tình yêu".
SH thay tựa để không bị hiểu lầm là "tình yêu lứa đôi". Là một con
chiên vô cùng ngoan đạo, tác giả tha thiết gửi đến chủ chăn những lời
xây dựng rất công phu. Cá nhân chúng tôi cho rằng tác giả cũng chỉ lẩn
quẩn trong cái tròng mà các giáo hoàng Ca-tô giáo đã nhồi sọ: "yêu Giáo Hội như yêu mẹ của mình", mặc dù Giáo Hội Ca-tô Việt Nam chỉ là sản phẩm của quân giặc để lại. Đúng là độc chiêu! Bắt tín đồ "nhận giặc làm Cha", "nhận con giặc làm Mẹ", và còn phải "vâng lời". Cái bẫy to lớn như thế thì hòa hợp, hòa nhập với ai và bằng cách nào? Dù sao bài dưới đây chỉ là cầu mong giáo hội nhìn nhận lại
(không biết để làm chi!) một đứa con đã bị ruồng rẫy vì không chịu "yêu
mẹ" mà lại yêu đồng bào hơn. Nhưng người ta vẫn nghe các Cha giảng "Thầy Không Bảo Tha Thứ Bảy Lần Nhưng Là Bảy Mươi Lần Bảy!" (Matthêu 18,19-22). Chỉ thấy con chiên phải tha thứ cho các Cha mà thôi, các Cha không tha cho ai. Hình ảnh của tác giả cung cấp
---"Chính con người đặt ra tôn giáo và tôn giáo đáp trả lại con người, thật đau khổ biết chừng nào!"--- (Đức Dũng)
Cách đây khá lâu, khoảng năm năm. Thứ
Bảy, ngày 06/08/2011, tại Trung tâm Thánh Tâm Long Thắng, Giáo Phận
Vĩnh Long - ấp Định Mỹ - xã Định Hòa – huyện Lai Vung – Tỉnh Đồng Tháp,
Lm. Phêrô Nguyễn Văn Tường, Quản nhiệm Trung tâm Thánh Tâm Long Thắng,
phát biểu chào mừng các thành viên tham dự buổi sinh hoạt chủ đề: “Tình yêu nhưng không của Thánh Tâm Chúa Giêsu”.
Được biết Trung tâm Thánh Tâm Long Thắng ở một vùng quê hẻo lánh
thuộc huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp là một họ lẻ ít giáo dân thuộc
giáo hạt Sa Đéc, Giáo phận Vĩnh Long, nơi này hằng tuần vào các ngày
thứ Bảy, các giáo dân từ các nơi xa thành thị tụ họp về dâng lời cầu
nguyện Lòng Thương Xót Chúa do Cha Phêrô Nguyễn Văn Tường Quản nhiệm.
Đặc biệt, nhà thờ có một giếng nước khoan và qua hệ thống xử lý lọc
nước tiên tiến cho ra nguồn nước đóng chai tinh khiết được bộ Y tế tỉnh
Đồng Tháp chứng nhận. Nước tinh khiết đóng chai này được cung cấp miễn
phí cho tất cả người dân vùng Long Thắng. Nhưng ngày nay cha Phêrô Nguyễn Văn Tường
ra sao? Người đời nhìn cha, không còn ai nhận ra sự thật. Cắt phép
thông công là công cụ của kitô giáo thời Trung Cổ còn sót lại ngày nay,
là vũ khí quyết liệt cuối cùng của Giáo Hội Công Giáo. Vâng, một kẻ bị
trục xuất, bị cắt phép thông công thì phải sống cô đơn, không còn cách
nào có được một cuộc sống bình thường như trước. Cái cô đơn này, cũng
là cái quí giá hiếm hoi, làm lộ ra cái tình yêu sâu đậm, tạo nên sợi
giây liên lạc thiêng liêng giữa Cha với những ai yêu chuộng sự thật?
Kể từ ngày 23/5/2014, cho đến nay, đã có biết bao nhiêu lời nghị
luận, bàn tán trên internet và ngoài đời, xung quanh vấn đề của cha, đa
chiều và rất phong phú, nhưng ở đây bài viết này, con không chia sẽ
thêm vấn đề. Con chỉ không hiểu tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi ở đâu? Trong lời chia sẻ của Cha Ernest Nguyễn Văn Hưởng nguyên Giám Đốc Đại Chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn nhân dịp 25 năm linh mục:
“Việc làm của chúng ta còn biết bao nhiêu động lực khác mà chúng ta
nhiều khi không ý thức. Có khi để công việc được tốt đẹp, được thành
công, chúng ta sẵn sàng đạp người khác xuống
để bước lên, đạp một cách vô tư. Cách làm như vậy khiến công việc
chúng ta trở nên vô ích. Chúng ta chẳng phục vụ Chúa và Giáo hội một
chút nào cả khi chúng ta gây mất hiệp thông trong Giáo hội.” Trích trong một dịp tiếp kiến chung thứ tư hàng tuần tại Vatican. Ngày 11/9/2013 Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói: “Chúng
ta hãy yêu mến Giáo Hội như yêu mẹ chúng ta, và cũng biết thông cảm
các thiếu sót của Giáo Hội. Tất cả mọi bà mẹ đều có các thiếu sót, tất
cả chúng ta cũng đều có các thiếu sót. Nhưng khi người ta nói tới các thiếu sót đó của mẹ chúng ta, thì chúng ta che đậy chúng lại,
chúng ta yêu chúng, thế thôi... Và Giáo Hội cũng có các thiếu sót của
mình. Tôi có yêu mến Giáo Hội như thế, như tôi yêu mẹ tôi không? Chúng
ta có giúp Giáo Hội trở thành xinh đẹp hơn, đích thật hơn, theo như Chúa
muốn không? Tôi để lại cho anh chị em các câu hỏi này.” Và xin đọc thêm “Tất
cả chúng ta là Giáo Hội và tất cả chúng ta đều bình đẳng trước mắt
Thiên Chúa. Tất cả! Và tất cả chúng ta đều được mời gọi cộng tác vào việc sinh ra các kitô hữu mới
cho đức tin, tất cả chúng ta đều được mời gọi là những người giáo dục
trong đức tin, và loan báo Tin Mừng. Mỗi người trong chúng ta hãy tự
hỏi: tôi làm gì để cho các người khác có thể chia sẻ đức tin kitô? Tôi
có phong phú trong đức tin của tôi không, hay tôi là một kẻ đóng kín? Khi tôi lập lại là tôi yêu một Giáo Hội không đóng kín trong ranh giới của mình,nhưng có khả năng ra ngoài, di chuyển, cả với vài nguy hiểm, để đem Chúa Kitộ tới cho tất cả mọi người,
tôi nghĩ tới tất cả, tới tôi, tới bạn, tới mọi kitô hữu! Tôi nghĩ tới
tất cả mọi người. Tất cả chúng ta đều chia sẻ chức làm mẹ của Giáo hội,
tất cả chúng ta là Giáo Hội, tất cả; để cho ánh sáng của Chúa Kitô tới
với tận cùng bờ cõi trái đất.” Tông huấn Giáo hội tại Á Châu phần kết luận Lm. Anton Nguyễn Ngọc Sơn đã viết: “Suy
nghĩ về việc hội nhập văn hoá trong tông huấn Giáo Hội tại châu Á là
một dịp để mỗi người chúng ta kiểm điểm lại đời sống thánh hiến của mình
về các lĩnh vực thể lý, tri thức, đạo đức và mục vụ tông đồ. Tất cả
những lĩnh vực này phản ánh những giá trị mà mỗi người chúng ta chọn
lựa từ trong nền văn hoá Kitô giáo hay nền văn hoá dân tộc
và thể hiện nét đẹp của chúng ra trong đời sống. Như thế, hội nhập văn
hoá khởi đầu từ chính mỗi người chúng ta rồi mới lan toả ra trong xã
hội và thế giới. Nếu chúng ta chọn lựa đúng những giá trị cao cả thì
đời sống thánh hiến biểu lộ sự hội nhập tốt đẹp. Đời sống đó sẽ có
sức thu hút những người khác tìm đến và gặp gỡ Đức Kitô ở trong ta cũng
như để ta có thể giới thiệu Người và làm chứng cho Người một hiệu quả.” Và Đức Giám mục Bùi Tuần trong bài: Cảnh báo các mục tử ngài viết: “Tôi thấy trong Hội Thánh tại Việt Nam, hiện tượng cứng lòng không phải là hiếm, hiện tượng đánh mất trái tim cũng không phải là ít, hiện tượng độc ác cũng có đó đây.” Và “Một
trong những sai lầm khác mà nhiều vị lo sợ, là sự các ngài nhiều khi
có thể đã dung dưỡng những thói quen xấu, mà các tư tế thời xưa đã tự
hào, và đã bị Chúa Giêsu khiển trách, đó là thói quen đạo đức nặng về hình thức, căn cứ vào luật nọ luật kia, để tìm tư lợi, né tránh việc bác ái cứu người đau khổ.” Kitô giáo từ nguyên thủy cho đến nay, mỗi thời kỳ mỗi khác, tương
lai cũng khác, trong thế giới này luôn luôn thay đổi, một là phát
triển, hai là suy vong. Trong bối cảnh của thế kỷ 21. Thời đại của lý
trí, trí tuệ, kỷ nguyên số, internet. Giáo hội Công giáo hiện nay không
thể trở về thời kỳ đen tối trung cổ Châu Âu, làm sao có thể che đậy
được những gai góc của các vấn đề giáo hội địa phương. Qua lời phát
biểu trên đây của Đức Giáo Hoàng đương nhiệm, Đức Giám Mục Bùi Tuần.
Cha Ernest Nguyễn Văn Hưởng và Cha Anton Nguyễn Ngọc Sơn ta có thể
thấy phải chăng vì tình yêu, các ngài đã thấy trong giáo hội như thế nào
trong tương lai?, Và đã kêu gọi về tình yêu, Nhưng các ngài đã quên một điều là sự thật, trường hợp của Cha Phêrô Nguyễn Văn Tường là một thí dụ, chúng ta nên nghĩ suy vấn đề này như thế nào? Trong giáo hội mất tình yêu là mất tất cả. Bây giờ chúng ta hãy xem thiền sư Thích Nhất Hạnh. Trong tác phẩm Nói Với Tuổi Hai Mươi, lá bối phát hành năm 1966 ngài viết vấn đề này ra sao?: “ Và
làm sao cho những cộng đồng tôn giáo đều hướng về sự phát triển đời
sống toàn diện của con người, làm sao cho mọi tôn giáo gặp nhau trong
thái độ thực sự nhân bản, không lấy những nhận thức độc quyền về tôn giáo - những giáo điều, mà lấy con người làm đối tượng và cứu cánh.” Trong dân tộc Việt Nam, nền văn hóa và nhân văn từ ngàn xưa, ông bà
tổ tiên của ta, cũng dạy con cháu về tình yêu, tinh thần đoàn kết giúp
đỡ nhau “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” “thương người như thể thương thân” “lá lành đùm lá rách”.Truyền thống ấy đã trở thành đạo lí của dân tộc, lịch sử cũng đã chứng minh điều đó, Chúng ta hãy đứng trên thực tế khách quan để nhìn rỏ vấn đề. Về một
con người cụ thể, đó là Cha Phêrô Nguyễn Văn Tường Thật vậy con người
là đối tượng của các tôn giáo, chính con người đặt ra tôn giáo và tôn giáo đáp trả lại con người, thật đau khổ biết chừng nào. Giờ đây ta sẽ du hành trên con tàu không thời gian tưởng tượng,
đi ngược về những miền đất xa xưa của nền văn minh kitô giáo, (Kính mong
xem các bài tham khảo phụ đính dưới đây.) chúng ta sẽ thấy hết sự thật
về tình yêu của kitô giáo, có rất nhiều lập trường và nhận dịnh khác
nhau nhưng lại là sự thật lịch sử khách quan. Vâng chúng ta sẽ làm cuộc
hành trình với một nghĩ suy thật khách quan, sự thật lịch sử vẫn là
ngọn đuốc thắp lên trong ta và cho ta hiểu, khi ta nghĩ về một mối tình
kitô, ta sẽ thấy vì sao một tôn giáo như vậy, mà trong suốt hai ngàn
năm để lại những hậu quả vô cùng đau thương cho nhân loại, âu sự đời là như vậy.
Ta khẽ hỏi
Hỏi gió gió mỉm cười lên chua chát
Hỏi mây mây tan biến ở phương nào
Bởi vì đâu trong đêm dài khổ lụy
Hồn ta đau vương vấn ngót năm rồi
Giờ còn lại chỉ mình ta với bóng
Ta xem đời ta lại phải xem ta
Và chợt hiểu ta đừng ôm hoài bão
Tham sân si gánh nặng biết bao lần
Hồn ta hỡi hãy vươn lên mà sống
Vỗ tay nào cho trọn kiếp nhân sinh
Hỡi Thánh giá có buồn vui không nhỉ
Duyên nợ tình sao Ngài cứ lặng thinh
Thiên Chúa hỡi Ngài ở đâu chỉ lối
Cho con người luôn mãi mến thương nhau
Con hy vọng rằng, Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam không lấy những
giáo điều mà hãy lấy con người làm đối tượng và cứu cánh, điều đó thật
sự cần thiết cho ngày nay. Giáo hội Công giáo tại Việt Nam.Hãy nhìn
lại Cha Phêrô Nguyễn Văn Tường một con người cụ thể, rất đáng trân quý
và thương yêu. Con cũng hy vọng rằng một mùa xuân mới, mùa gặt mới cho nền văn
hóa kitô hòa nhập với cộng đồng văn hóa dân tộc Việt Nam, lấy nền văn
hóa đầy bản sắc dân tộc Việt Nam làm chính và một vụ mùa bội thu cho
nền văn hóa nước nhà. Vì tình yêu dân tộc Việt Nam bền vững đến muôn
đời. /.
Tác giả: Joseph S. Nye | Biên dịch: Trương Thị Phương Thanh Khi những cuộc bầu cử Quốc hội Hoa Kỳ càng gần kề, những câu hỏi về
sự vững chắc của các thể chế chính trị và tương lai lãnh đạo toàn cầu
của Mỹ càng trở nên nhiều hơn. Trong đó, một số câu hỏi đã lấy sự bế tắc
giữa các đảng phái làm bằng chứng cho sự suy yếu của Mỹ. Nhưng tình
hình có thật sự xấu như vậy hay không? Theo nhà khoa học chính trị Sarah Binder, kể từ cuối thế kỷ 19, sự chia rẽ ý thức hệ giữa hai đảng chính trị chính của Mỹ chưa bao giờ lớn như bây giờ. Tuy nhiên, bất chấp sự bế tắc hiện tại, Quốc hội thứ 111
(nhiệm kỳ 3/1/2009 – 3/1/2011 – NBT) đã thông qua một gói kích thích
tài khóa lớn, cải cách chăm sóc y tế, điều tiết tài chính, một hiệp ước
kiểm soát vũ khí và sửa đổi chính sách của quân đội về tình dục đồng
tính. Rõ ràng, hệ thống chính trị Mỹ không thể bị bác bỏ (ngay cả khi sự
bế tắc giữa các đảng phái là mang tính chu kỳ). Tuy vậy, Quốc hội hiện nay gặp phải nhiều cản trở do năng lực lập
pháp yếu. Mặc dù trong hai thập niên qua, sự nhất quán về ý thức hệ đã tăng gấp hơn hai lần,
từ 10% lên đến 21% dân chúng, hầu hết người Mỹ không có quan điểm đồng
nhất theo hướng tự do hay bảo thủ, và muốn các đại biểu của họ ở khoảng
trung gian. Tuy nhiên, những đảng chính trị đã trở nên nhất quán hơn về ý
thức hệ kể từ thập niên 1970. Đây không phải là vấn đề mới đối với Hoa Kỳ, đất nước có bản hiến
pháp dựa trên quan điểm tự do của thế kỷ 18 cho rằng quyền lực được kiểm
soát tốt nhất bởi sự phân lập cũng như cơ chế kiềm chế và đối trọng lẫn
nhau, với tổng thống và Quốc hội bắt buộc phải cạnh tranh lẫn nhau để
giành quyền kiểm soát trong các lĩnh vực như chính sách đối ngoại. Nói
cách khác, chính phủ Mỹ được thiết kế có khuynh hướng kém hiệu quả nhưng
nhằm đảm bảo rằng nó không thể dễ dàng đe dọa sự tự do của người dân. Sự không hiệu quả này có thể đã góp phần vào sự sụt giảm lòng tin vào những thể chế của Mỹ. Ngày nay, chưa đến 1/5
dân chúng tin rằng chính phủ liên bang luôn hành động đúng đắn, so với
con số 3/4 vào năm 1964. Đương nhiên, những con số này thỉnh thoảng cũng
tăng đột biến trong giai đoạn đó, chẳng hạn như sau vụ tấn công khủng
bố ngày 11/9/2001; nhưng sự sụt giảm tổng thể là đáng kể. Điều này không chỉ xảy ra với chính phủ liên bang. Trong những thập niên qua, lòng tin của công chúng
vào nhiều tổ chức có tầm ảnh hưởng đã bị tụt dốc. Từ năm 1964 đến năm
1997, tỉ lệ người Mỹ tin vào các trường đại học giảm từ 61% xuống còn
30%, trong khi lòng tin vào những tập đoàn chủ chốt giảm từ 55% xuống
còn 21%. Lòng tin vào những tổ chức y tế giảm từ 73% xuống còn 29%, và
vào ngành báo chí từ 29% xuống còn 14%. Trong thập niên qua, lòng tin
vào các tổ chức giáo dục và quân sự đã được phục hồi, nhưng lòng tin vào
Phố Wall và những tập đoàn lớn vẫn tiếp tục giảm. Nhưng những con số có vẻ đáng báo động này có thể gây hiểu nhầm. Trên thực tế, 82% người Mỹ
vẫn tin rằng nước Mỹ là nơi tốt nhất trên thế giới để sinh sống, và 90%
thích hình thức chính thể dân chủ của họ. Người Mỹ có thể không hoàn
toàn hài lòng với những lãnh đạo của họ, nhưng nước Mỹ chắc chắn không ở
trên bờ vực của một cuộc cách mạng mang phong cách Mùa xuân Ả Rập. Hơn nữa, dù chính trị đảng phái đã trở nên phân cực hơn trong những
thập niên gần đây, nhưng điều này lại diễn ra sau thập niên 1950 và đầu
thập niên 1960, khi việc thoát khỏi cuộc Đại suy thoái và chiến thắng
trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai kích thích sự tin tưởng cao bất
thường vào các thể chế của Mỹ. Trên thực tế, sự sụt giảm lòng tin của
quần chúng vào chính phủ xảy ra mạnh mẽ nhất vào cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970. Không chỉ thế, sự sụt giảm lòng tin vào chính phủ lại không đi kèm
với những thay đổi đáng kể trong hành vi của người dân. Ví dụ, Cục Thuế
vụ Quốc gia là một trong những tổ chức chính phủ gây dựng được ít lòng
tin quần chúng nhất nhưng lại không có sự gia tăng đột biến về hành vi
trốn thuế. Về mặt kiểm soát tham nhũng, Mỹ vẫn nằm trong nhóm đạt 90%. Và dù tỷ lệ bỏ phiếu
trong các cuộc bầu cử tổng thống giảm từ 62% xuống còn 50% trong nửa
sau của thế kỷ 20, tỷ lệ này ổn định vào năm 2000, và tăng lên đến 58%
vào năm 2012. Sự mất lòng tin mà người Mỹ đã thể hiện có thể bắt nguồn từ một sự
chuyển biến sâu hơn trong quan điểm của họ về chủ nghĩa cá nhân. Điều
này đã dẫn đến sự giảm tôn trọng chính quyền. Thật vậy, những khuynh
hướng tương tự là đặc trưng của đa số xã hội hậu hiện đại. Do hệ thống liên bang của Mỹ mang tính phi tập trung nên sự chuyển
biến xã hội này hầu như sẽ không ảnh hưởng đến tính hiệu quả của các thể
chế Hoa Kỳ nhiều như người ta vẫn nghĩ. Thực tế, sự bế tắc ở thủ đô
thường đi cùng với sự hợp tác chính trị và đổi mới ở cấp độ tiểu bang và
thành phố, khiến người dân nhìn nhận chính quyền bang và địa phương
cũng như nhiều cơ quan chính phủ khác một cách tốt đẹp hơn là họ nhìn
nhận về chính phủ liên bang. Phương pháp quản trị này đã tác động sâu sắc lên trạng thái tâm lý
của người Mỹ. Một nghiên cứu vào năm 2002 chỉ ra rằng 3/4 người Mỹ cảm
thấy được kết nối với cộng đồng của họ và đánh giá chất lượng cuộc sống
của họ là tuyệt vời hoặc tốt, với gần một nửa số người trưởng thành tham
gia vào các nhóm hay phong trào công dân. Đó là tin tốt cho Mỹ. Nhưng nó không đồng nghĩa với việc các nhà lãnh
đạo Mỹ có thể tiếp tục phớt lờ những nhược điểm của hệ thống chính trị,
ví dụ như những “ghế an toàn” do gian lận (bằng cách phân chia lại khu
vực bầu cử để giành ưu thế trong bầu cử – NBT) trong Hạ viện và những
quá trình gây cản trở (việc thông qua các dự luật) ở Thượng viện. Liệu
có thể vượt qua được những nguồn bế tắc như vậy hay không vẫn còn chưa
chắc chắn. Và có những lý do chính đáng để nghi ngờ khả năng duy trì vị
thế “siêu cường” của Mỹ không chỉ vì sự trỗi dậy của những nền kinh tế
lớn mới nổi. Thế nhưng, như tác giả theo quan điểm bảo thủ David Frum
đã chỉ ra, trong hai thập niên qua, Mỹ đã trải qua một sự sụt giảm
nhanh chóng về tội phạm, tai nạn ô tô, lượng tiêu thụ rượu và thuốc lá,
lượng thải lưu huỳnh đi-ô-xít và nitơ đi-ô-xít, hai chất gây ra mưa
a-xít, đồng thời dẫn đầu một cuộc cách mạng Internet. Do đó, những sự so
sánh thẳng thừng như coi sự suy yếu của Mỹ giống với sự suy yếu của Đế
chế La Mã là không có cơ sở./. Joseph S. Nye là cựu trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng, chủ tịch Hội
đồng Tình báo Quốc gia Hoa Kỳ, và là giáo sư tại Đại học Harvard. Gần
đây nhất, ông là tác giả của cuốn Presidential Leadership and the
Creation of the American Era. Bản gốc tiếng Anh: Project Syndicate
Nguồn: Christopher Walker & Robert W. Orttung (2014). “Breaking the News: The Role of State-run Media”, Journal of Democracy, Vol. 25, No. 1, pp. 71-85. Biên dịch: Lê Hoàng Giang | Hiệu đính: Nghiêm Hồng Sơn Mặc dù có nhiều phương tiện truyền thông mới đang dần vươn lên, và
môi trường truyền thông nhìn chung đã trở nên đa dạng và cạnh tranh hơn
rất nhiều so với trước, các chế độ chuyên chế đang tìm ra những cách
thức đáng ngạc nhiên (và hiệu quả đến mức đáng báo động) để sử dụng
truyền thông nhằm củng cố quyền lực của mình. Các cơ quan truyền thông
do nhà nước kiểm soát một cách chính thức hoặc không chính thức đã trở
nên rất cần thiết đối với sự bền vững của các chính quyền phi dân chủ
trên khắp thế giới. Những thông điệp mà các phương tiện truyền thông này
đưa ra – và sự thờ ơ của người dân mà chúng
khuyến khích – giúp giữ cho một số nhân vật quan trọng thuộc giới chóp
bu không đào ngũ khỏi chế độ, đồng thời ngăn chặn sự trỗi dậy của những trung tâm quyền lực thay thế khác trong lòng xã hội. Các cơ quan truyền thông đang được nói đến có thể do nhà nước sở hữu
và điều hành, hoặc có thể là các cơ quan tư nhân trên danh nghĩa nhưng
thực tế vẫn nằm dưới quyền kiểm soát của chính quyền. Hầu hết các chế độ
chuyên chế – kể cả các chế độ ở Trung Quốc và Nga – đều áp dụng mô hình
này một cách khéo léo – dùng cả các phương tiện truyền thông nhà nước
lẫn các cơ quan truyền thông tư nhân để thực hiện những mục đích của
mình. Việc nhắc đến Bắc Kinh và Matxcơva có thể khiến người ta hiểu rằng
truyền thông do nhà nước kiểm soát chỉ tồn tại ở các nước cộng sản hay
hậu cộng sản, nhưng không phải như vậy. Azerbaijan, Belarus, Campuchia
và Việt Nam có các phương tiện truyền thông bị nhà nước chi phối, nhưng
Ethiopia, Iran, Mozambique, Rwanda và Zimbabwe cũng vậy (ngoài ra
Venezuela cũng đang nhanh chóng đi theo xu hướng này). Trong tất cả các
quốc gia này, dù là cộng sản, hậu cộng sản hay không phải là cộng sản,
những hệ thống truyền thông được thiết lập ra để hạn chế thông tin và
tin tức tới đại đa số người theo dõi và định hình nên tiếng nói chính
trị chính thống. Hơn thế nữa, một số chính quyền được bầu lên một cách
dân chủ nhưng có khuynh hướng chuyên chế, giống như các chính quyền ở
Ecuador, Nicaragua, Thổ Nhĩ Kỳ và Ukraine, cũng sử dụng những kỹ thuật
tương tự. Để thực thi những ý định của mình, những nhà chuyên chế kiểu cũ dựa
vào những cơ chế cưỡng ép trên quy mô lớn cùng với các tổ chức đảng vững
chắc, do trung ương kiểm soát và thấm đẫm ý thức hệ. Cả Nga và Trung
Quốc đều có những bộ máy hành chính an ninh quốc gia quy mô lớn, nhưng
không nước nào còn duy trì chính đảng theo kiểu cũ. Đảng Cộng sản Liên
Xô (CPSU) đã không còn nữa, trong khi Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) dù
vẫn nắm quyền nhưng đã cắt gọt bớt hệ tư tưởng của mình để “phù hợp với
những quyết định chính sách được đưa ra trên cơ sở phi tư tưởng”.1
Cưỡng ép là yếu tố quan trọng trong cả 2 trường hợp, nhưng nền chuyên
chế ở cả 2 nước không thể đứng vững nếu chỉ dựa vào vũ lực – và các nhà
cầm quyền biết rõ điều đó. Đây là lúc cần dùng đến các phương tiện truyền thông do nhà nước kiểm
soát. Khi không có hệ tư tưởng dẫn dắt nào như chủ nghĩa cộng sản để
làm chỗ dựa, các chế độ sử dụng truyền thông để lấp đầy khoảng trống,
đưa ra một hỗn hợp gồm chủ nghĩa tiêu dùng, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa
bài Mỹ và các dòng tư tưởng khác để giữ con thuyền chế độ “nổi lên trên
mặt nước” thông qua sự ủng hộ từ quần chúng.2 Tuy nhiên, truyền thông do nhà nước kiểm soát không tồn tại chỉ để ca
tụng giới cầm quyền. Một chức năng thiết yếu bên cạnh đó là nhằm công
kích và hạ thấp uy tín những thế lực muốn thay thế tình trạng chuyên chế
hiện hành trước khi những thế lực đó lôi kéo được đông đảo người dân.
Theo cách này, truyền thông do nhà nước điều hành là một công cụ để gạt
bỏ bất kỳ phe đối lập chính trị hay phong trào dân sự tiềm tàng nào. Khi
không thể tiếp cận hiệu quả các phương tiện truyền thông, các phe phái
đối lập sẽ không thể tiếp cận được tới những người ủng hộ tiềm năng hay
có được tiếng nói đáng kể trong tranh luận công khai. Mặc dù các nền chuyên chế đương thời vẫn coi khả năng trấn áp bất
đồng chính kiến bằng vũ lực là thiết yếu và sẽ không từ bỏ cách làm này,
Trung Quốc, Nga và các chế độ khác ngày nay thường sử dụng biện pháp
mạnh một cách có chọn lọc hơn.3 Lý do của việc này bắt nguồn
từ thực tiễn: Nguyện vọng hiện đại hóa nền kinh tế và đạt được sự phồn
vinh không thể tồn tại cùng sự đàn áp thô bạo trên quy mô lớn và sự hạn
chế lưu lượng thông tin mà điều đó yêu cầu. Ngoại trừ các trường hợp như Cuba, Bắc Triều Tiên và Turkmenistan,
các chế độ chuyên chế ngày nay không hướng đến việc thống trị hoàn toàn
tất cả các phương tiện thông tin đại chúng. Thay vào đó, thứ họ muốn có
thể được gọi là “kiểm soát truyền thông hiệu quả” – vừa đủ cho họ thể
hiện được quyền lực cũng như củng cố tuyên bố về tính chính danh của họ,
trong khi làm suy yếu những đối thủ tiềm năng. Sự chi phối của nhà nước
như vậy – dù là thông qua những cơ quan truyền thông được nhà nước công
khai điều hành hay chỉ chịu ảnh hưởng từ chính quyền một cách mềm dẻo –
cho phép các chế độ làm nổi trội những tiếng nói ủng hộ chính quyền
trong khi sử dụng quyền cắt bỏ trong biên tập để hạn chế việc chỉ trích
có hệ thống các chính sách và hành động của chính phủ. Xét về khía cạnh này thì Trung Quốc là nước đi đầu. Các tuyên truyền
viên của Bắc Kinh là những người biết tiếp thu một cách khéo léo, học
theo những phương pháp quan hệ công chúng thường được vận dụng trong
chính trị phương Tây và chỉnh sửa chúng sao cho thích hợp với các điều
kiện ở Trung Quốc. Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV) tiếp cận
một lượng khán giả rất đông đảo, lên tới hàng trăm triệu người, với tư
cách là phương tiện kiểm soát của nhà nước, định hướng cho ý thức của dư
luận về tin tức và sự kiện, và quản lý các thông điệp trong văn hóa
giải trí đại chúng.4 CCTV đại diện cho một thực thể truyền thông của chủ nghĩa chuyên chế
vốn đã đạt được một mức độ thành công thương mại nhất định, kết hợp với
sự trấn áp có hệ thống một cách khéo léo. Đó là một tập đoàn truyền
thông (giờ đã có các chân rết hoạt động cả trong và ngoài lãnh thổ Trung
Quốc) có lợi nhuận về mặt tài chính, tự chủ trong cách vận hành, và
đáng tin tưởng về mặt ý thức hệ. Sự nổi bật của CCTV phần nhiều là nhờ
những gì các nhà điều tiết trong chính phủ Trung Quốc đã làm để hạn chế
các đối thủ tiềm năng. Những khách hàng mua quảng cáo của CCTV thường là
các tập đoàn nhà nước hoặc các công ty tư nhân muốn tạo ấn tượng với
các quan chức nhà nước. Kết quản có được là một môi trường truyền thông
bán thương mại mà trong đó nhà nước giữ vai trò chi phối về biên tập nội
dung. Sự nổi trội mà chúng ta thấy ở CCTV không phải do ngẫu nhiên: Truyền
thông do nhà nước kiểm soát có thể có nhiều hình thức, nhưng truyền hình
là số một. Giống như tên cướp nhà băng huyền thoại Willie Sutton với
câu nói trứ danh rằng hắn cướp ngân hàng vì “tiền đều nằm ở đấy”, các
chế độ chuyên chế tập trung vào truyền hình vì đó là nơi mọi con mắt đều
hướng vào. Trong phần lớn các xã hội, truyền hình là nguồn chính để mọi
người tìm kiếm tin tức và thông tin. Những thông tin được đưa trên
truyền hình – cả nội dung và cách thức đưa tin – ảnh hưởng và định hình
nội dung của dòng quan điểm chính trị chính thống. Hơn nữa, những nội
dung có trên truyền hình sẽ xác định nhận thức của người dân về việc chế
độ sở hữu nhiều quyền lực đến mức nào. Truyền hình vẫn không có đối thủ cạnh tranh thực sự. Việc tiếp cận và
sử dụng Internet đang phát triển, đôi khi rất nhanh chóng, và nhiều
công nghệ mới đang giúp cho những người dân bình thường có thể tiếp cận
được với nhiều loại hình thông tin hơn và liên lạc với nhau một cách
nhanh và rẻ. Các phương tiện truyền thông xã hội có thể giúp định hình
cách nhìn nhận, đặc biệt là về những vấn đề gây bất bình rộng rãi, và
đang thay đổi các cơ chế hành động tập thể.5 Nhưng các phương
tiện truyền thông mới đang ở thời điểm có thể gọi là “giai đoạn trỗi
dậy” trong sự phát triển của mình và còn lâu mới có khả năng thách thức
vai trò chủ đạo của truyền hình trong các xã hội chuyên chế. Một trong số nhiều vấn đề thế giới mạng gặp phải là tình trạng quá
phân tán. Theo bản chất, các chế độ chuyên chế tập trung chặt chẽ vào
việc giữ chặt quyền lực và do đó sử dụng truyền thông nhà nước một cách
có hệ thống vì mục đích này. Truyền hình do nhà nước kiểm soát mang
thông điệp của chế độ tới khán giả mà không gặp phải trở ngại gì. Ngược
lại, mạng Internet là một hỗn hợp lẫn lộn với nhiều tiếng nói trái ngược
nhau – không phải là nền tảng tốt nhất để thúc đẩy một lực lượng đối
lập thống nhất và chặt chẽ nhằm chống lại phe đang cầm quyền. Nhà nước kiểm soát truyền thông như thế nào Những phương pháp nào đã giúp cho các hệ thống truyền thông nhà nước –
trong đó không chỉ gồm truyền hình mà còn các báo, đài và phương tiện
truyền thông mới, tất cả đều được chống lưng bởi hệ thống cảnh sát và
tòa án bị chính quyền chi phối – có thể tồn tại lâu dài trong kỷ nguyên
hiện tại với những tiến bộ nhanh chóng về công nghệ và truyền thông, cụ
thể là trên các lĩnh vực mạng Internet và truyền thông xã hội? Để đạt
được quyền chi phối hiệu quả, các phương tiện truyền thông do nhà nước
kiểm soát tại các chế độ chuyên chế gây ảnh hưởng lên bốn đối tượng khán
giả riêng biệt. Bốn đối tượng đó, theo trình tự mức độ quan trọng đối
với chế độ, là 1) giới chóp bu trong chính liên minh của chế độ; 2) đại
bộ phận quần chúng nói chung; 3) người sử dụng Internet thông thường của
đất nước; và 4) các nhóm chính trị đối lập và các tổ chức xã hội độc
lập. Giới chóp bu trong liên minh của chế độ Các chế độ chuyên chế luôn luôn phải lo lắng về chính giới chóp bu
trong nội bộ của mình, những người có lợi ích lớn trong việc liệu chế độ
có triển vọng tốt hay xấu, và luôn muốn có thể “đứng về phía bên thắng
thế” bằng cách tỏ ra “linh động” thay đổi lòng trung thành của họ. Các
phương tiện truyền thông do nhà nước kiểm soát phải có nhiệm vụ trấn an
những trụ cột của chế độ này rằng nhà cầm quyền (hay nhóm cầm quyền)
hiện tại vẫn sẽ đứng vững, từ đó tiếp tục gắn chặt và trung thành với
chế độ sẽ là “việc làm khôn ngoan”. Sự thống trị rõ ràng lên các phương tiện truyền thông là tín hiệu cho
các thành viên chủ chốt của liên minh cầm quyền biết nếu phản bội lại
chế độ thì sẽ bị trừng phạt bằng nhiều biện pháp, trong đó bao gồm các
chiến dịch bôi nhọ bằng truyền thông. Trong bối cảnh này, những gì các
phương tiện truyền thông nói ra ở một thời điểm nào đó cũng không quan
trọng bằng việc nhóm cầm quyền có khả năng cho thấy rằng họ có thể áp
đặt bất kỳ thông điệp gì họ muốn. Như Guillermo O’Donnell và Philippe
Schmitter đã chỉ ra, các nhà chuyên chế biết rõ rằng các chế độ phi tự
do có thể sẽ bắt đầu rạn nứt nếu những nhân vật ôn hòa trong chế độ tìm
ra và liên lạc được với những nhân vật ôn hòa trong các nhóm đối lập mà
họ có thể thương lượng được.6 Giữ cho một số quan chức thuộc
giới chóp bu không tự tách ra khỏi chế độ là một mục tiêu sống còn và do
đó cũng là một nhiệm vụ thiết yếu của truyền thông do chế độ kiểm soát. Tại Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc sử dụng sự chi phối truyền
thông của mình để gửi tín hiệu đến một số khán giả thuộc giới chóp bu.
Trong số này có cả chính các thành viên trong ban lãnh đạo Đảng, cũng
như các quan chức nhà nước và cộng đồng doanh nhân Trung Quốc lớn mạnh,
đang phát triển và có liên kết chặt chẽ không thể tách rời với Đảng.
Anne-Marie Brady đã quan sát thấy vai trò tối quan trọng của truyền
thông do nhà nước kiểm soát ở Trung Quốc với tư cách là “bộ phận chính
quyền thứ tư” (thay vì chỉ là “quyền lực thứ tư”) và vị trí thuận lợi
của truyền thông trong việc truyền tải đến giới chóp bu những thông điệp
ủng hộ hệ thống đảng-nhà nước.7 Tổng thống Nga Vladimir Putin sử dụng truyền thông để phô trương
quyền lực trước một số thành phần chủ chốt. Ông ta đặc biệt muốn giữ cho
nhóm siloviki (những người quyền lực) gồm những quan chức
trong quân đội, các lực lượng cảnh sát và bộ máy an ninh quốc gia, nằm
trong tầm kiểm soát của mình. Những đối tượng khán giả khác được các
hành động phô trương quyền lực đặc trưng của Putin hướng đến (trong đó
bao gồm cả việc đến dự một trận đấm box tay không cùng với ngôi sao phim
hành động người Bỉ Jean-Claude Van Damme và những hình ảnh được công bố
rộng rãi trong đó Putin cởi trần, cưỡi ngựa và mang một khẩu súng
trường săn chó sói) còn có các quan chức nhà nước và cộng đồng doanh
nhân, đặc biệt là các công ty năng lượng và công ty khai thác tài nguyên
thiên nhiên khác có vai trò to lớn trong nền kinh tế của Nga. Sự xuất
hiện tràn lan của Putin trên các phương tiện truyền thông nhắc nhở các
nhóm đối tượng này rằng họ đang hưởng lợi từ trạng thái lãnh đạo tối cao
của Putin và nên lo sợ nếu làm ông ta không hài lòng, cũng như lo sợ
điều sẽ xảy đến nếu ông ta rời vị trí. Việc Quốc hội Mỹ thông qua Đạo luật Magnitsky vào cuối năm 2012 là
phép thử cho sự kiểm soát của Putin đối với tầng lớp cấp cao của nước
Nga. Được đặt tên theo Sergei Magnitsky, một luật sư người Nga đã chết
trong tù vào năm 2009 sau khi bị bắt vì lật tẩy tham nhũng của các quan
chức, đạo luật này cho phép Mỹ áp đặt các biện pháp trừng phạt (cấm nhập
cảnh và đóng băng tài sản) lên một số quan chức Nga được chỉ đích danh.
Đạo luật được thông qua như một nỗ lực nhằm cho từng cá nhân trong giới
quan chức cấp cao của Putin thấy họ có thể bị quy trách nhiệm cá nhân
khi vi phạm nhân quyền ngay trên chính đất nước họ. Sau khi chính phủ Mỹ
đưa ra danh sách 18 người Nga bị trừng phạt vào tháng 4 năm 2013, các
quan chức trong bộ máy của Putin đã xuất hiện trên các chương trình quan
trọng của truyền hình quốc gia để bác bỏ và chỉ trích lệnh trừng phạt
này. Dù đạo luật này của Mỹ đã khiến nhiều cá nhân cấp cao trong chính
quyền Matxcơva cảm thấy rằng ủng hộ Putin sẽ không còn có lợi cho họ
nữa, nhưng việc những nhân vật này xuất hiện trên truyền hình quốc gia
đã đưa ra tín hiệu cho các bên chủ chốt rằng điện Kremlin của Putin sẽ
không lùi bước trong việc đòi hỏi họ tiếp tục trung thành. Tương tự như vậy, điện Kremlin cũng có thể sử dụng truyền thông đã
được chế ngự để kiểm soát các quan chức địa phương. Trong chiến dịch
trấn áp các phe nhóm đối lập sau khi Putin bước vào nhiệm kỳ tổng thống
thứ ba vào tháng 5 năm 2012, truyền thông nhà nước đã tán dương đặc biệt
những thống đốc đã ra lệnh bắt giữ các nhà hoạt động đối lập. Đại bộ phận quần chúng nói chung Truyền thông do nhà nước chi phối có nhiệm vụ làm cho tuyệt đại đa số
người theo dõi tôn trọng và nể sợ chế độ, nhưng nhiệm vụ tạo ra thái độ
thờ ơ và thụ động cũng quan trọng không kém. Phương pháp được các cơ
quan truyền thông của chế độ sử dụng là kết hợp làm sai lệch, bóp méo
tin tức và đánh lạc hướng dư luận để củng cố thứ mà học giả về dân chủ
Ivan Krastev gọi là “chủ nghĩa chuyên chế thây ma” (“zombie
authoritarianism”).8 Để giữ chắc quyền lực trong tay, một chế độ chuyên chế phải giữ cho
phần lớn người dân không tham gia vào chuyện chính trị. Các phương tiện
truyền thông do nhà nước kiểm soát có thể hỗ trợ bằng cách đồng loạt làm
nổi bật những lợi ích của tình trạng hiện thời và bôi nhọ những nỗ lực
chống đối. Bằng cách cảnh báo rằng cái giá của việc đòi hỏi thay đổi là
rất cao trong khi những lợi ích chỉ là hão huyền, truyền thông có thể
trấn áp và giải tán các nỗ lực chống đối. Các phương tiện truyền thông
do nhà nước chuyên chế kiểm soát ngày nay có khá nhiều điểm giống với
những gì Albert O. Hirschman đã phân tích từ vài thập kỷ trước trong
nghiên cứu kinh điển của ông về lý luận phản động (reactionary rhetoric –
trong đó tác giả phân tích các lý do phản đối biến đổi xã hội – NBT).
Truyền thông thường xuyên cố gắng cho thấy rằng thay đổi chính trị sẽ
chẳng đạt được gì hay thậm chí là mang lại những kết quả trái ngược với
mong muốn ban đầu, và sẽ gây ra những cái giá hay hậu quả không thể chấp
nhận được lên toàn xã hội.9 Từ khi các cuộc biểu tình nổ ra tại Nga do nghi ngờ kết quả bầu cử
nghị viện vào tháng 12 năm 2011, chiến lược của các phương tiện truyền
thông của chế độ là tìm cách giảm bớt vận động quần chúng thông qua giải
trí. Tại sao phải xuống đường tuần hành hay tham gia vào các tổ chức
dân sự khi những chương trình lôi cuốn như Dom-2, một phiên bản khác của chương trình truyền hình thực tế Big Brother (phiên bản ở Việt nam gọi là “Người Giấu Mặt”
– ND), đang lên sóng? Khi phải đối phó với đại đa số quần chúng, chính
quyền Putin đã học theo các phương pháp từ cuối thời kỳ Xô-viết, trong
đó tập trung vào giải trí thay vì huy động chính trị. Truyền hình do nhà nước kiểm soát là công cụ chính. Tại các nước có
chế độ chuyên chế, truyền hình là nguồn thông tin chính trị của không
dưới ba phần tư quần chúng nhân dân. Tại Trung Quốc, dù Internet phát
triển mạnh mẽ, việc tiếp nhận tin tức chủ yếu vẫn là thông qua mạng lưới
truyền hình quốc gia. Tại Nga, 88% số người trả lời trong một cuộc thăm
dò của Trung tâm Levada vào tháng 6 năm 2013 cho biết họ có được tin
tức về đất nước và thế giới thông qua truyền hình.10 Không
phương tiện truyền thông nào khác nhận được kết quả cao hơn 25%. Cũng
trong cuộc điều tra trên, 51% người trả lời cho biết họ tin những gì
được phát sóng. Con số đó vẫn là rất đáng kể, dù đã giảm mạnh từ con số
79% người trả lời tin tưởng vào truyền hình Nga trong một cuộc điều tra
vào tháng 8 năm 2009. Dữ liệu từ một loạt quốc gia phong phú khác như
Azerbaijan, Belarus, Campuchia, Iran và Việt Nam vẽ nên một bức tranh về
sự nổi trội và ảnh hưởng sâu sắc của truyền hình do nhà nước kiểm soát
và không khác mấy so với ở Nga. Tuy vậy, như sự sụt giảm 28% số người tin tưởng đã cho thấy, nhiều
người Nga theo dõi các kênh truyền thông do nhà nước kiểm soát đã tỏ ra
ngờ vực về những gì họ trông thấy. Nghiên cứu của Ellen Mickiewicz về
khán giả truyền hình Nga cho thấy rằng họ không chỉ đơn thuần chấp nhận
những gì các kênh truyền hình do Điện Kremlin kiểm soát phát sóng, mà
thay vào đó xử lý những thông tin này theo những cách thức phức tạp khác
hơn nhiều so với giới lãnh đạo đã chủ định.11 Sự thiếu tin
tưởng ngày càng lớn đối với truyền hình do nhà nước kiểm soát ở Nga có
thể báo hiệu những giới hạn của mô hình nhằm tạo ra sự thụ động thông
qua ảnh hưởng của truyền thông này. Nhưng truyền hình, cũng như những phương tiện truyền thông chính
thống khác, đã cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc truyền tải thông điệp
rằng tích cực chống đối chính quyền sẽ phải trả giá đắt. Phần lớn người
dân đã tiếp nhận quan niệm rằng họ chẳng thể làm gì để thay đổi tình
hình.12 Họ tiếp tục có thái độ thờ ơ và không quan tâm đến
chính trị. Các chế độ ở Bắc Kinh, Matxcơva và các trung tâm quyền lực
chuyên chế khác đã xây dựng những hệ thống truyền thông do nhà nước kiểm
soát có sự tương đồng về hành vi với những hệ thống mà Barbara Geddes
và John Zaller đã quan sát được khi nghiên cứu nền độc tài quân sự thống
trị Brazil từ năm 1964 đến năm 1985. Cụ thể, họ ghi nhận rằng “nguyên
lý chủ đạo của việc tiếp xúc với các phương tiện truyền thông ủng hộ
chính quyền là nhằm thuyết phục những người thờ ơ về chính trị ít nhất
cũng phải trở thành những người ủng hộ các chính sách của chính phủ một
cách bị động”.13 Nói cách khác, kể cả nếu khán giả theo dõi
truyền hình nhà nước không nhất thiết tin vào những gì họ thấy, họ vẫn
hành xử như thể họ tin. Cuối cùng, cần phải nhắc đến rằng nhiều chế độ chuyên chế có thành
phần ủng hộ chủ yếu là những người dân sinh sống tại các vùng nông thôn
và những cư dân thành thị có học thức kém hơn – những nhóm người mà
truyền thông do nhà nước kiểm soát có thể ảnh hưởng tới một cách đặc
biệt hiệu quả. Tại Trung Quốc, nhóm người này tiếp tục chiếm đa phần
khán giả theo dõi của kênh CCTV, khi những người dân Trung Quốc trẻ tuổi
hơn và có học thức cao hơn hướng đến mạng Internet. Truyền hình nhà
nước Nga tích cực cung cấp cho người dân các khu vực một lượng thông tin
ổn định trong đó miêu tả Nga bị bao vây bởi các mối đe dọa từ bên ngoài
và đặc biệt là từ Mỹ. Những khán giả không có điều kiện được giáo dục
hay không có kinh nghiệm để giúp họ nghĩ khác đi thường vẫn tin tưởng vô
điều kiện vào truyền thông nhà nước khi đánh giá (một cách gay gắt) các
ý định hay chính sách của Mỹ. Không có gì là nói quá khi cho rằng Chủ
nghĩa bài Mỹ, theo nhiều cách, là thứ gần giống nhất với một hệ tư tưởng
thống nhất mà Điện Kremlin có ngày nay, và nó cũng đóng vai trò hợp
pháp hóa quan trọng cho cả Đảng Cộng sản Trung Quốc. Những người thường xuyên sử dụng mạng Internet Giống như truyền hình, mạng Internet là thứ mà các nhà cầm quyền
chuyên chế và cấp dưới đang dần nhận ra rằng họ cần phải kiểm soát. Thế
giới truyền thông và đối thoại trực tuyến tự do càng ngày càng làm họ
thấy lo ngại. Để có thể kiểm soát được, các lực lượng tuyên truyền và
kiểm duyệt của nhà nước đang quay sang các phương pháp từng tỏ ra hữu
ích trong việc “quản lý” các phương tiện truyền thông kiểu cũ. Tuy nhiên
nhiệm vụ không giống trước đây: Cố gắng kiểm soát những nội dung chính
trị quan trọng trên một mạng lưới truyền hình trung ương dễ dàng hơn rất
nhiều so với trên mạng. Nhưng các chế độ chuyên chế đang tỏ ra rất kiên quyết và có mong muốn
đổi mới cách thức để đạt được mục tiêu của họ. Như đối với các phương
tiện truyền thông kiểu cũ, những biện pháp hạn chế được thử nghiệm không
được thiết kế để ngăn chặn tất cả thông tin, mà thay vào đó chỉ chủ yếu
chặn các tin tức về chính trị hay các vấn đề nhạy cảm khác, không để
chúng liên tục đến được một số đối tượng khán giả quan trọng. Khi việc
sử dụng Internet và lượng người sử dụng Internet tăng cao tại các quốc
gia chuyên chế – và với bằng chứng rõ ràng từ Nga và các nước Arab về
việc các công cụ mạng có thể rất hữu ích trong việc tổ chức biểu tình
quy mô lớn – các chế độ chuyên chế đang nỗ lực hơn bao giờ hết trong
việc tìm cách cản trở lưu lượng thông tin chính trị đáng tin cậy trên
thế giới ảo. Sự phổ biến của mạng Internet là rất đáng lưu ý, và nhiều hệ thống
chuyên chế đang tham gia vào trào lưu này. Quả thật trong vấn đề này,
các chính phủ chuyên chế khó có thể có lựa chọn nào khác, trừ phi họ
muốn cai quản một Bắc Triều Tiên tiếp theo. Tăng trưởng và phát triển
kinh tế yêu cầu phải có sự “kết nối”. Do đó, tại Việt Nam – nước đang
phát triển nhanh nhưng vẫn theo chế độ chuyên chế – 40% người dân có thể
truy cập Internet. Tại Belarus (nước được biết đến một cách tai tiếng
như là “nền độc tài cuối cùng của châu Âu”), Kazakhstan và Arab Saudi,
con số đó còn ở mức cao hơn, khoảng 55%. Trung Quốc có lượng người truy
cập Internet chiếm 45% dân số, và hiện giờ có gần 600 triệu người dùng
Internet và trên 300 triệu người dùng “tiểu blog”, đa số là trên mạng
Sina Weibo, phiên bản Twitter của Trung Quốc. Tại Nga, nơi lượng người
dùng Internet gần đây đã vượt mức 50%, các phương tiện truyền thông trên
mạng như TV Rain đang giúp cho các phe đối lập tiếp cận được với nhiều
người hơn. Khi Internet có được tầm ảnh hưởng cao hơn, thì sự can thiệp chính
trị chuyên chế vào Internet cũng ngày càng lớn hơn. Cho đến gần đây, Nga
sử dụng những kỹ thuật tương đối khôn khéo và tinh vi “được thiết kế để
định hình và tác động lên thời gian và cách thức người dùng Internet
tiếp nhận thông tin, thay vì chặn truy cập hoàn toàn”.14 Theo
đó, đạo luật của Nga vào năm 2012 cho phép chính phủ được buộc ngừng
hoạt động các trang web có nội dung không phù hợp – cũng như một nghị
định của Bộ Truyền thông và Tổng cục An ninh Liên bang Nga FSB (đơn vị
kế tục Ủy ban An ninh Quốc gia KGB thời Liên Xô) dự kiến có hiệu lực vào
năm 2014 trong đó yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ Internet theo dõi
tất cả hoạt động Internet, kể cả các địa chỉ IP, số điện thoại và tên
tài khoản người dùng – đánh dấu một bước lùi rõ ràng về tự do trên mạng
Internet. Vào ngày 1/9/2013, Việt Nam bắt đầu thi hành Nghị định 72, một biện
pháp đầy tham vọng nhằm cấm người sử dụng Internet nước này thảo luận về
các sự kiện đang xảy ra và chia sẻ các bài báo trên mạng. Chính phủ
Trung Quốc, trong khi đó, là nước đi đầu trong vấn đề kiểm duyệt các nội
dung trực tuyến và đã phát triển những phương pháp tinh vi hàng đầu
trong việc hạn chế thảo luận chính trị trên mạng. Bắc Kinh tỏ ra sẵn
lòng chia sẻ các kỹ thuật của mình cho các chính quyền khác, bao gồm cả
Belarus, Việt Nam và Zimbabwe. Thậm chí khi lượng truy cập Internet tại
các nước như Belarus, Việt Nam, Iran, Arab Saudi và các quốc gia vùng
Vịnh khác đã có sự phát triển nhanh chóng, tổ chức Freedom House vẫn
đánh giá thế giới mạng ở những nước này đang trở nên ít tự do hơn.15
Những số liệu như vậy cho thấy rằng tại các nước này, một “sự hội tụ
tiêu cực” đang diễn ra mà trong đó những nội dung tin tức trên các
phương tiện truyền thông mới đang phải chịu sự kiểm soát ngày càng chặt
giống như các phương tiện truyền thông cũ từ lâu đã phải chịu. Mặc dù mạng Internet có vẻ như ngày càng được phổ quát trên phạm vi
toàn cầu, nhưng môi trường chính trị và truyền thông đặc trưng của mỗi
quốc gia vẫn định hình và hạn chế những tác động của truyền thông trực
tuyến tại các quốc gia đó.16 Môi trường chính trị tổng thể
tại Nga và Trung Quốc có nhiều tác nhân kích thích việc tự kiểm duyệt,
phổ biến trong giới nhà báo hoạt động tại các cơ quan truyền thông do
nhà nước kiểm soát. Nhà nước còn có thể trừng trị thẳng tay những người
viết blog và người dùng Internet khác vì tội bày tỏ quan điểm “sai lầm”
trên mạng. Trường hợp Alexei Navalny, một blogger và nhà hoạt động nổi
tiếng đã lật tẩy được tham nhũng quy mô lớn trong giới chức Nga và đã
phải đối mặt với cáo buộc hình sự nghiêm trọng – mà nhiều người cho là
vu cáo – vì vi phạm tài chính là ví dụ rõ nét cho kỹ thuật thô bạo nhưng
hiệu quả này. Sự thiếu vắng các tòa án xét xử độc lập cũng góp phần
khiến cho việc trấn áp như vậy trở nên quá dễ. Tuy nhiên, thật trớ trêu là sự đa dạng và rộng mở của mạng Internet
vốn có thể tiếp nhận mọi lối suy luận và phản biện lại có thể làm suy
yếu khả năng của các phương tiện truyền thông mới trong việc nới lỏng
quyền kiểm soát của giới chóp bu chuyên chế được tổ chức tốt và nhất
quyết giữ chặt quyền lực. Truyền thông nhà nước tung hô tình trạng hiện
hành. Những nội dung trái ngược xuất hiện trên mạng có thể thách thức
dòng quan điểm chính thống của nhà nước theo nhiều cách cụ thể, như tăng
cường nhận thức về các vấn đề môi trường, quan hệ giữa các sắc tộc,
tham nhũng, hoạt động pháp lý kém cỏi, sai sót trong việc cung chấp các
dịch vụ y tế, v.v… Nhưng những câu truyện và lời chỉ trích rất khác biệt
đó – kể cả nếu bỏ qua việc chúng khó có thể tác động được lên một số
lượng người theo dõi đáng kể – vẫn chưa chắc sẽ tập hợp được thành một
lập luận chặt chẽ đủ để lật đổ chế độ. Ví dụ như người Nga hiện giờ chỉ
đang tập trung đòi quyền lợi dựa trên những trường hợp cụ thể – như phản
đối việc phá hủy một công trình kiến trúc quý giá hay một khu công
viên, hay đòi hỏi có chăm sóc y tế cho người dân bình thường – chứ họ
không liên kết với nhau để đòi thay đổi hệ thống chính trị nói chung
nữa, nhất là sau những đợt trấn áp Putin thi hành vào năm 2012. Tại Trung Quốc, chính quyền đã kiểm duyệt nội dung Internet một cách
tinh tế bằng cách cắt bỏ, chỉnh sửa bất kỳ những gì có trên mạng (không
quan tâm đến việc chúng có nội dung gì) mà có vẻ có khả năng kích thích
huy động quần chúng. Mục đích chỉ là để bắt giữ hoặc ngăn chặn các hoạt
động tập thể độc lập, chấm hết.17 Đảng Cộng sản đã đưa những
nỗ lực này lên một tầm cao mới vào tháng 9 năm 2013, khi bắt đầu thi
hành một cuộc đàn áp dữ dội lên các nhà lãnh đạo bất đồng chính kiến và
việc đưa tin trên tiểu blog của họ. Phần nhiều việc kiểm duyệt trên mạng Internet tại Trung Quốc bao gồm
việc các cổng thông tin điện tử tư nhân như Sina.com thực thi yêu cầu
của nhà nước trong việc tự giám sát sao cho những trang của họ tuân thủ
theo đúng (hay thậm chí là dự đoán trước) các chỉ thị của Đảng Cộng sản
Trung Quốc. Những chế độ theo chủ nghĩa toàn trị kiểu cũ thường tự mình
làm lấy mọi việc; các chế độ chuyên chế ngày nay thích giao việc đó ra
ngoài và, khi có thể, sử dụng các lực lượng thị trường để tăng cường khả
năng kiểm duyệt. Bắc Kinh vẫn có cơ quan kiểm duyệt chính thức. Nhưng
họ biết rằng như vậy là chưa đủ, vì vậy họ dành phần lớn công việc bẩn
thỉu cho các đơn vị tư nhân bằng cách đảm bảo rằng các đơn vị tư nhân
này nếu muốn thành công về thương mại hay thậm chí là muốn tồn tại được
thì buộc phải tuân theo chính sách của đảng. Trong quá trình thực hiện
các mục tiêu do nhà nước đề ra, các công ty được khuyến khích đổi mới.
Twitter và các dịch vụ nước ngoài khác từ chối tuân theo các tiêu chuẩn
kiểm duyệt của địa phương đơn giản sẽ không được phép hoạt động trên thị
trường Trung Quốc rộng lớn. Thêm nữa, Bắc Kinh, Matxcơva và các chính quyền chuyên chế khác đang
ngày càng sử dụng nhiều biện pháp can thiệp tinh vi trên thế giới mạng
để tạo ra tình trạng “nhiễu ngẫu nhiên” nhằm làm các phe phái đối lập
tiềm tàng bị lúng túng. Các tài khoản tự động, hay còn gọi là “bot”,
được hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp bởi các chế độ này sẽ phát tán
những lời tuyên truyền của chính quyền và công kích những phong trào dân
sự độc lập và phe phái chính trị đối lập nhằm mục đích “khuấy đục nước”
khi các vấn đề có ảnh hưởng quan trọng tới chính trị được đưa ra thảo
luận. Cách đây không lâu, rất nhiều người cho rằng mạng Internet sẽ gây ra
sự bùng nổ thông tin trên khắp mọi nơi, và chắc chắn sẽ đem đến nhiều
thay đổi về chính trị. Nhưng thay vào đó, có vẻ như những phương pháp
quản lý việc thể hiện quan điểm chính trị trên các phương tiện truyền
thông cũ đang được điều chỉnh và áp dụng vào các phương tiện truyền
thông mới với hiệu quả ngày càng cao. Xu hướng “hội tụ tiêu cực”, qua đó
không gian dành cho các thể hiện quan điểm chính trị có ý nghĩa trên
mạng bị thu hẹp và dịch chuyển theo hướng của các phương tiện truyền
thông cũ ít tự do, có những ý nghĩa đáng lo ngại sâu sắc. Quy mô của các
biện pháp hạn chế lúc lộ liễu lúc khôn khéo tinh vi mà Bắc Kinh,
Matxcơva và những chế độ học theo đang sử dụng ít nhất cũng nên khiến
chúng ta hỏi rằng liệu mạng Internet có thể đứng vững được trước sự xâm
lấn của chủ nghĩa chuyên chế để tự trở thành nền tảng mở cho việc thảo
luận chính trị tại các nước chuyên chế hay không. Các phe nhóm đối lập và các tổ chức dân sự Trong các nền dân chủ, truyền thông mở là huyết mạch của các tổ chức
dân sự và các phe nhóm chính trị đối lập. Trong các chế độ chuyên chế,
truyền thông nhà nước luôn tìm cách cô lập các tổ chức dân sự ra khỏi
quần chúng nói chung, nhằm mục đích ngăn chặn bất kỳ sự phối hợp chính
trị nào giữa các tổ chức đó và quần chúng. Để thực hiện mục đích này,
truyền thông nhà nước cố gắng làm mất tín nhiệm trong mắt dư luận mọi
quan niệm về thay thế chế độ cầm quyền hiện tại. Những đòn tấn công
truyền thông nhằm làm phi pháp hóa các tổ chức dân sự và đối lập, mở
đường cho những biện pháp trấn áp khác nhằm vào họ. Ví dụ, một chế độ
chuyên chế muốn kết án một lãnh đạo dân sự vì những tội hình sự gán ghép
nào đó đầu tiên sẽ “làm mềm yếu mục tiêu” bằng việc biến nhà lãnh đạo
đó trở thành đối tượng để truyền thông công kích. Truyền thông nhà nước thường buộc tội những người đối lập về việc có ý
đồ gây hỗn loạn, cáo buộc này có thể gây chấn động lớn và sâu sắc trong
những xã hội từng có bất ổn chính trị trong lịch sử. Đồng thời, những
người chỉ trích chế độ có thể bị tô vẽ là cố tình hoặc vô tình làm công
cụ cho phương Tây, một thủ đoạn phổ biến tại các quốc gia đa dạng như
Trung Quốc, Zimbabwe, Azerbaijan và Nga. Những cơ quan phát thanh quốc
tế như đài BBC, Đài Châu Á Tự do, Đài Châu Âu Tự do thường luôn bị chặn,
do đó tước đi mất những kênh quan trọng trong việc thu thập tin tức độc
lập và tiếp xúc với khán giả nội địa của các tổ chức dân sự. Thông thường, những người phát ngôn đối lập không bao giờ được tiếp
cận trực tiếp với những khán giả được giám sát chặt chẽ của truyền thông
nhà nước. Dù đây có vẻ như là một hành động khôn ngoan về chiến thuật –
nhưng có thể có lúc lên án một người quá kịch liệt sẽ chỉ tạo ra thêm
danh tiếng hay thậm chí là sự đồng cảm cho người đó – chế độ sẽ làm cho
người chỉ trích cơ bản biến mất trước quần chúng. Truyền hình nhà nước ở
Nga, cụ thể là mạng NTV, đã nhiều lần phát sóng trên toàn quốc những
chương trình chấn động trong đó đưa ra ý kiến rằng các nhà hoạt động vì
nhân quyền hay những nhà cải cách khác đang phục vụ cho các thế lực bên
ngoài, hoặc đang có mưu đồ làm hại nhà nước Nga theo những cách khác.
Trong số những chương trình này có “Phân tích một cuộc Biểu tình”, một
bộ phim tài liệu được chiếu vào năm 2012 với mục đích là công kích các
cuộc biểu tình nổ ra ở Matxcơva và các thành phố khác sau khi cuộc bầu
cử nghị viện và tổng thống bị cho là không trong sạch. Truyền thông nhà
nước luôn cố gắng bôi nhọ những người lật tẩy sai phạm như Navalny và
Magnitsky, cho rằng cá nhân họ là những kẻ thoái hóa (Magnitsky vẫn tiếp
tục bị phỉ báng sau khi đã chết trong tù) dù những nhân vật này đã dũng
cảm đấu tranh để đưa những quan chức biến chất ra ngoài ánh sáng. Bài
học cho những ai có ý định làm theo họ đã rất rõ ràng. Những biện pháp đối xử tàn bạo như vậy có phải là do lệnh từ trên đưa
xuống hay không? Khả năng rất cao là không phải, có lẽ vì không cần
thiết phải có mệnh lệnh rõ ràng nào cả. Truyền thông do nhà nước kiểm
soát, cũng giống như đoàn tùy tùng của Vua Henry II, luôn ở thế sẵn sàng
tấn công bất kỳ Thomas Becket đương thời nào và thậm chí không cần phải
đợi có những mệnh lệnh bóng gió như “Ai đó khử giúp ta tên tu sĩ tọc
mạch này đi?” từ miệng của người trị vì. Ngày nay tại Nga và các quốc
gia tương đồng, các chế độ thường coi tự kiểm duyệt là hình thức kiểm
duyệt tốt nhất, và trấn áp tự phát vào những kẻ chỉ trích là cách trấn
áp tốt nhất. Trong việc kiểm duyệt, những chủ trương kiểm duyệt của nhà
nước đã được ngầm tiếp thu, và trong việc trấn áp, giới chóp bu chẳng
cần nhấc một ngón tay đe dọa hay thốt ra một lời cáo buộc nào – những gì
họ muốn được thi hành đều được ngầm hiểu và không cần phải được đưa ra
thảo luận. Ngày nay tại Trung Quốc, mọi tờ báo và đài phát sóng lớn đều phải
đăng ký với nhà nước hoặc Đảng Cộng sản Trung Quốc, và tiếp tục phải
tuân lời các thể chế quốc gia (quan trọng nhất là Ban Tuyên giáo Trung
ương của Đảng Cộng sản Trung Quốc) có quyền chỉ đạo đường lối biên tập.
Khi bàn đến những vấn đề nhạy cảm như Tây Tạng, chỉ những bình luận viên
thân với chế độ mới được lên sóng.18 Quyền lực của các thế lực chính trị trong việc biên tập nội dung thông tin được minh họa rõ rệt thông qua trường hợp Lưu Hiểu Ba.
Là một nhà văn phải ngồi tù vì kiên quyết chống lại chế độ độc đảng kéo
dài, nhưng ông không được nhiều người biết đến ngoài một số những nhà
hoạt động nhân quyền và chuyên gia về Trung Quốc. Rất ít người bên ngoài
Trung Quốc đã từng nghe tên ông. Điều này đã thay đổi vào ngày 8 tháng
10 năm 2010, khi Ủy ban Nobel tại Oslo tuyên bố trao giải Nobel Hòa bình
cho Lưu vì “đã đấu tranh trường kỳ, bất bạo động vì những quyền con
người cơ bản tại Trung Quốc.” Đột nhiên, tin tức thế giới tràn ngập
những tiêu đề về nhà bất đồng chính kiến dũng cảm và ôn hòa đã bị Trung
Quốc tống giam chỉ vì nói lên những suy nghĩ của mình và cổ động cho
những gì mà người dân các nước dân chủ coi là mặc nhiên mà có. Lưu đã bị kết tội trước đó một năm về hành vi “xúi giục chống phá nhà
nước” dựa theo một điều thuộc bộ luật hình sự của Trung Quốc thường
được dùng để bịt miệng những ai thách thức quyền lực của Đảng Cộng sản.
Hành vi phạm tội cụ thể của ông là tham gia viết và lưu hành một văn
kiện kêu gọi dân chủ có tên Hiến chương 08. Thế giới tự do có thể đã tôn
vinh sự dũng cảm và quyết tâm không ngừng vì những nguyên tắc cao cả và
nhân đạo của Lưu, nhưng khán giả truyền hình Trung Quốc không hề nghe
được dù chỉ là một lời về ông. Chỉ cộng đồng mạng Trung Quốc mới có thể
tránh được kiểm duyệt và bưng bít chính thống để lấy được thông tin về
người Trung Quốc đầu tiên được nhận Giải Nobel Hòa bình này. Tại Nga, những chuyện thời sự được phát trên các kênh truyền hình
chính – Channel One, Rossiya và NTV – đều quy tụ những chuyên gia và
bình luận viên được chính quyền cho phép lên sóng. Những nhân vật đối
lập, nhà hoạt động, nhà phê bình xã hội hiếm khi, hoặc không hề, được
mời xuất hiện. Một số nhà hoạt động, trong đó có những lãnh đạo phe đối
lập Boris Nemtsov và Lyudmila Alexeyeva được biết đến vì sự nghiệp của
họ đã bắt đầu từ trước thời kỳ Putin nắm quyền. Nhưng không ai trong số
họ có được ảnh hưởng đáng kể lên công chúng Nga – họ đã bị tách rời khỏi
truyền thông quá lâu rồi. Những nhà hoạt động trẻ tuổi hơn cũng bị tách
rời một cách nhất quán khỏi những chương trình truyền hình có nhiều
người xem. Phát biểu trên đài phát thanh Ekho Moskvy vào ngày 22 tháng 5
năm 2013, Vladimir Posner, một quan chức tuyên giáo cấp cao của Liên Xô
cũ hiện đang là người dẫn một chương trình nói chuyện hàng đầu trên đài
truyền hình Channel One do nhà nước sở hữu, thừa nhận rằng “có một số
người… mà tôi biết là mình không thể mời” đến tham gia chương trình. Ông
liệt kê trong số những người này cả những lãnh đạo đối lập như Nemtsov,
Navalny và Vladimir Ryzhkov.19 Các phương tiện truyền thông
nằm dưới sự kiểm soát của nhà nước tạo ra những trở ngại to lớn mà những
tổ chức dân sự và phe phái đối lập buộc phải vượt qua, khi họ phấn đấu
để tiếp cận được đông đảo khán giả với những tầm nhìn về quản lý hành
chính và đời sống chính trị mới.
“Không có nhiệt tình cách mạng
thì không thể có hành động cách mạng; song, nếu chỉ có nhiệt tình không
thôi thì nhiều nhất cũng chỉ có thể phá được cái cũ chứ không thể xây
dựng được xã hội mới.” – Lê Duẩn
«Ta là người Việt Nam, nhưng ta hiểu rõ ta không phải là việc dễ,
hiện nay chưa phải chúng ta đã hiểu rõ người Việt Nam lắm đâu. Muốn hiểu
rõ mình thì cần phải đối chiếu với những người khác, nếu không thì bản
thân mình cũng không hiểu rõ được mình».(Lê Duẩn:Xây dựng nền văn hoá mới, con người mới xã hội chủ nghĩa – Nxb Văn Hoá, Hà Nội 1977, trang 59).
«Trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, không phải nhất thiết sự vật
chỉ có một khả năng mà luôn luôn có thể có nhiều khả năng tiến lên. Và
sự vật tiến lên theo khả năng này hay khả năng kia còn tùy thuộc vào ý
định của con người. Và để đạt đến mục đích nhất định, cũng không phải
chỉ có một con đường mà luôn luôn có thể có nhiều con đường, cũng như
muốn đi đến một điểm trung tâm, người ta có thể đi từ trên xuống, hoặc
từ dưới lên, từ tả qua hay từ hữu lại». (Lê Duẩn:sđd trang 21).
«Chế độ ta là chế độ chuyên chính vô sản. Chuyên chính trước hết
phải là đường lối của giai cấp vô sản. Cốt tủy của chuyên chính vô sản
là ở đó chứ không phải là ở chỗ sử dụng bạo lực. Đường lối đó là sự kết
hợp lý luận Mác-Lê Nin với thực tiễn cách mạng của nước mình. Đường lối
đó là khoa học nhất, là đúng quy luật, là bắt buộc. Đường lối đó không
hề nhân nhượng với ai, chia sẻ với ai và hợp tác với ai cả. Đó là chuyên
chính. Đường lối đó là: nhất thiết phải xóa bỏ giai cấp bóc lột, xóa bỏ
chế độ sản xuất cá thể, xác lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Nhất
thiết phải làm thế, không cho phép ai đi ngược lại. Đó là chuyên chính.
Đường lối đó nhất thiết phải là công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Không
ai được chống lại. Đó là chuyên chính. Đường lối đó là đường lối của
giai cấp công nhân, không ai được chống lại. Ai chống lại những cái đó
thì bị bắt. Đó là chuyên chính»! (Văn kiện đảng toàn tập, tập 37, Nxb Chính trị Quốc gia 1976, trang 403-404).
«Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các
nước xã hội chủ nghĩa và cho cả nhân loại, đánh cho cả bọn xét lại đang
đâm vào lưng ta»! (1) (Theo cựu Bộ trưởng Ngoại giao VN xã nghĩa Nguyễn Mạnh Cầm).
«Mục tiêu của cuộc cách mạng này là làm cho toàn dân, trước hết là
nhân dân lao động, thấm nhuần tư tưởng xã hội chủ nghĩa, gạt bỏ thế giới
quan và nhân sinh quan cũ, xây dựng thế giới quan của chủ nghĩa Mác-Lê
Nin và nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa, làm cho chủ nghĩa Mác-Lê Nin
chiếm ưu thế tuyệt đối trong đời sống tinh thần của nước ta và trở thành
hệ tư tưởng của toàn dân, trên cơ sở đó mà xây dựng đạo đức mới (2) của
nhân dân ta». (Lê Duẩn: sđd trang 10).
«Nhật Bản phải tiến hành công nghiệp hoá trong năm sáu chục năm,
nhưng họ không có nhiều nguyên liệu trong nước, họ phải nhập hầu hết;
lúc bắt đầu công nghiệp hoá, lương thực bình quân đầu người chỉ có 124,
125 kilôgam. Còn ta thì hiện nay bình quân đầu người về lương thực đã
trên 300 kilôgam và ta có nguyên liệu dồi dào, phong phú hơn Nhật Bản.
Cho nên, chúng ta có căn cứ vững chắc để tin rằng chừng vài chục năm nữa
chúng ta có thể tiến lên thành một nước có nền kinh tế tiên tiến» [!]. (Lê Duẩn:sđd trang 41).
«Tất nhiên, cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhằm bịt con đường tư bản
chủ nghĩa tự phát; bịt con đường đó là để tránh cho nông dân lao động và
người thợ thủ công khỏi rơi vào cảnh bị bóc lột và bần cùng hoá. Bịt
con đường phát triển tư bản chủ nghĩa không có nghĩa là chặn nhân dân
lao động, không để cho họ vươn lên một đời sống dồi dào. Trái lại, đồng
thời với việc chặn con đường phát triển tư bản chủ nghĩa, cải tạo xã hội
chủ nghĩa nhằm mở ra con đường đưa nhân dân lao động đến ấm no, hạnh
phúc». (Lê Duẩn: sđd trang 27).
«Thủ công nghiệp là cách sản xuất của chế độ phong kiến; đại công
nghiệp là cách sản xuất của chế độ tư bản chủ nghĩa và cũng là cách sản
xuất của chủ nghĩa xã hội, giai đoạn thấp của chủ nghĩa cộng sản» (3).
«Dưới chế độ phong kiến, sản xuất nhỏ chỉ có một khả năng là tiến lên
sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa. Nhưng hiện nay [4/1962] là thời đại quá
độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; trên thế giới có phe xã hội
chủ nghĩa có nên công nghiệp tiên tiến, cho nên với sự giúp đỡ của phe
xã hội chủ nghĩa, sản xuất nhỏ có thể tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ
nghĩa. Chúng ta đang tiến như thế». «Bằng chứng là trong bảy năm qua,
chúng ta đã xây dựng được một số cơ sở công nghiệp nhẹ, trong lúc công
nghiệp nặng ta chưa có bao nhiêu. Và chúng ta dự định đến năm 1965 chúng
ta có thể sản xuất được gần hết những hàng tiêu dùng thông thường.
Chúng ta tiến thẳng từ sản xuất nhỏ cá thể lên sản xuất lớn xã hội chủ
nghĩa. Nhờ có sự giúp đỡ và hợp tác của các nước xã hội chủ nghĩa anh
em, chúng ta có điều kiện xây dựng những xí nghiệp kỹ thuật hiện đại,
trang bị bằng kỹ thuật mới cho các ngành kinh tế». (Lê Duẩn: sđd trang 37, 39).
Với lực lượng 24 300 Tiến $ĩ, 9
000 Giáo $ư,101 000 Thạc $ĩ… và ngoài ra, mới đây (09/6/2015) Forbes đưa
tin từ nghiên cứu của Diễn đàn kinh tế thế giới (World Economic Forum –
WEF) là mỗi năm VN xã hội chủ nghĩa cho ra lò 100 390 Kỹ $ư
tốt nghiệp, nhưng trớ trêu là ở đây chưa một doanh nghiệp công nghiệp,
điện tử nào sản xuất nổi con ốc vít cung ứng cho Galaxy S4 và Tab theo
đơn đặt hàng của tập đoàn tư bản chủ nghĩa Samsung. Xem thêm: Doanh nghiệp Việt “nóng mặt” vì không làm nổi ốc vít (4).
«Ta không nên quá sợ chủ nghĩa tư bản, nhất là đừng sợ chủ nghĩa tư
bản một cách vô căn cứ». «Các nước xã hội chủ nghĩa khác với các nước tư
bản chủ nghĩa ở chỗ bọn tư bản thì cạnh tranh, giành giật nhau, còn các
nước xã hội chủ nghĩa thì hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau» (5). «Trong thời
gian qua, các nước anh em giúp ta rất nhiều, viện trợ không phải hoàn
lại hàng nghìn triệu đồng. Chỉ có những nước xã hội chủ nghĩa mới có thể
giúp đỡ nhau như vậy. Nhưng đó là bước đầu, còn sau này khi chúng ta đã
trưởng thành lên thì chẳng lẽ chúng ta cứ nhờ vả như vậy mãi sao?
Không, chúng ta phải dựa vào sức của mình là chính để tiến hành công
nghiệp hoá. Ỷ lại vào sự giúp đỡ một chiều của các nước anh em là không
đúng; đó là tư tưởng ích kỷ, ăn bám» [!]. (Lê Duẩn: sđd trang 42, 44).
«Trong chế độ tư bản chủ nghĩa, giai cấp vô sản là giai cấp gồm
những người làm thuê, bị tưóc đoạt mọi quyền sở hữu về tư liệu sản xuất,
nguồn sống duy nhất của họ là bán sức lao động cho những người chiếm
hữu tư liệu sản xuất là giai cấp tư sản; hơn nữa giai cấp vô sản là lực
lượng chủ yếu trong việc sản xuất ra của cải vật chất, là giai cấp tiên
tiến đại biểu cho một phương thức sản xuất tiến bộ nhất, do đó giai cấp
vô sản là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để nhất, là giai cấp duy
nhất có khả năng lãnh đạo toàn thể quần chúng bị áp bức, bóc lột đấu
tranh nhằm tiêu diệt chế độ người bóc lột người, là giai cấp duy nhất có
khả năng lật đổ chủ nghĩa tư bản, xây dựng một xã hội mới: xã hội cộng
sản chủ nghĩa».
«Giai cấp tiểu tư sản không muốn lao động
vất vả, không căm ghét ăn bám, bóc lột; ngại khó khăn gian khổ, thường
tính toán “được mất” cá nhân mà ít nghĩ đến nhiệm vụ cách mạng. Trong
chế độ cũ, giai cấp tư sản thường chỉ nắm những vị trí then chốt về kinh
tế, chính trị và để cho những người trong giai cấp tiểu tư sản “làm
quan” cho chúng. Ngày nay, có một số thanh niên trí thức cũng muốn “làm
quan” cho giai cấp vô sản. Họ muốn làm cách mạng một cách “an nhàn”,
“thoải mái”, sợ đấu tranh gay gắt, sợ hy sinh phấn đấu, thích hoà bình
hưởng lạc». (Lê Duẩn: sđd, trang 106, 109).
Gần 900 công nhân Cty Shilla Bags
ngừng việc đòi quyền… đi vệ sinh. Công nhân bị đối xử như là súc vật:
phải mang thẻ bài khi đi vệ sinh! (DLB, 14/6/2015)
«Áp dụng phổ biến quy luật của tiến hoá là phê bình và tự phê bình,
là biện pháp có tầm quan trọng đặc biệt», «vì tự phê bình và phê bình là
quy luật của sự tiến bộ, là vũ khí tốt để rèn luyện tư tưởng». (Lê Duẩn: sđd trang 110, 155).
«Nhà nước ta là nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước do dân và vì dân
chứ không phải là nhà nước tư bản của giai cấp tư sản. Chúng nó cần pháp
luật để cai trị bóc lột nhân dân còn chúng ta là nhà nước xã hội chủ
nghĩa, chúng ta không cần pháp luật. Chúng ta chỉ cần phê bình và tự phê
bình là đủ»! (6) (Theo T$ luật học Nguyễn Đình Lộc – Đại biểu đảng hội 1981-1987, Bộ trưởng Bộ Tư pháp 1992-2002).
Thần Công Lý Việt Nam xã nghĩa.
12. «Tết Bính Thìn 1976, về thăm quê ở
làng Hậu Kiên, xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, Quảng Trị. Mồng 1 Tết
mà tôi đến thăm nhà nào cũng thấy luộc sắn. Bà con ta còn nghèo quá!
Trong đời hoạt động cách mạng, tôi đã chịu nghèo khổ, nhưng bây giờ đất
nước đã được thống nhất, phải lo làm sao để cho dân giàu lên. Phấn đấu
để đồng bào ta, các ông bà già, trẻ con mỗi bữa có một quả trứng, một
cốc sữa mà rất khó». «Trong vòng mười năm nữa, mỗi gia đình ở Việt Nam
sẽ có một radio, một TV và một tủ lạnh»! (7) (Quang Hào ghi: 13 năm làm cận vệ cho TBT Lê Duẩn, Văn nghệ Công an online, 05/2//2007).
«Tôi hỏi thì nói không có tiền. Kìa, không có thì in ra! In ra!
Không sợ lạm phát! Tư bản đế quốc in tiền mới lạm phát, chứ ta, chuyên
chính vô sản thì sao lại là lạm phát mà sợ»! (7) (Trần Đĩnh: Đèn Cù 1, cuối trang 186, đầu trang 187).
«Phạm Dương, tình báo và tham tán của phái đoàn Việt Nam bảy năm tại
Liên Hợp Quốc nói sau tháng 5/1975, đám chuyên viên kinh tế bạn anh báo
cáo với Lê Duẩn rằng Đông Nam Á, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan tiến
mạnh được là nhờ gia công cho các nước v.v. thì Lê Duẩn nạt: Lại muốn
học chúng nó làm nô lệ ư? »(Trần Đĩnh: Đèn Cù 2, trang 281).
«Trong xã hội tư bản, người làm nhiều lại hưởng ít, người không làm
lại hưởng nhiều; con người chạy theo lợi ích vật chất, vì lợi ích vật
chất mà làm hại nhau, chèn ép nhau, mạnh được yếu thua; lợi ích vật chất
thể hiện quan hệ giữa người bóc lột và người bị bóc lột. Còn dưới chế
độ xã hội chủ nghĩa thì làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít; thực
chất của vấn đề lợi ích vật chất ở đây là vấn đề công bằng, hợp lý». (Lê Duẩn: sđd trang 62).
Sau 40 năm xây dựng ‘công bằng, hợp lý’ xhcn: Lễ khai giảng lớp học ngàn saonăm học 2014-2015.
«Có đồng chí làm cho trung nông sợ có “khả năng”, vì thế họ không
dám sản xuất nhiều nữa, mà chỉ làm vừa đủ ăn thôi. Ở đôi nơi, do vận
dụng không thoả đáng đường lối giai cấp, nên có tình hình là bần nông có
quyền lợi chính trị nhiều, còn trung nông thì quyền lợi chính trị ít,
làm cho trung nông sợ mất quyền lợi chính trị, nông dân sợ trở thành
trung nông, nên không tích cực sản xuất nhiều hơn nữa». (Lê Duẩn: sđd, trang 35).
«Chúng ta phải nghiêm khắc phê phán để khắc phục những quan điểm
quản lý tư bản chủ nghĩa như lối kinh doanh đơn thuần chạy theo lời lỗ,
thiếu quan điểm phục vụ sản xuất, tách rời chính trị, những tập quán
kinh doanh theo lối cá thể, phân tán, vô tổ chức, dẫn đến tình trạng cục
bộ, bản vị, thiếu tinh thần hợp tác xã hội chủ nghĩa giữa các xí
nghiệp, giữa các ngành kinh tế, tài chính với nhau.
Chúng ta phải kiên quyết tẩy trừ tệ tham
ô, lãng phí, quan liêu, vì chẳng những nó làm tổn hại nghiêm trọng đến
công quỹ của quốc gia, mà còn có thể đẩy cán bộ công nhân ta ngập sâu
dưới vũng bùn của giai cấp tư sản. Tham ô là con đẻ của tư tưởng ăn bám,
bóc lột; lãng phí tuy còn do nhiều nguyên nhân khác về trình độ quản
lý, trình độ kỹ thuật, nhưng thông thường là con đẻ của óc làm thuê,
không xót xa với của cải, mồ hôi nước mắt của nhân dân lao động; bệnh
quan liêu xét cho cùng là sự thoái hoá theo tác phong của những giai cấp
bóc lột». (Lê Duẩn: sđd trang 105).
Thiếu tướng Nguyễn Xuân Tỷ – Ảnh: Việt Dũng
«Làm cán bộ mấy năm mà trong nhà có vài ba trăm tỉ đồng, thậm chí cả ngàn tỉ đồng thì lấy ở đâu ra nếu không tham nhũng. Có một đội ngũ giàu rất nhanh,cưỡi lên đầu nhân dân, còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản ngày xưa».
(Thiếu tướng Nguyễn Xuân Tỷ – Phó Giám đốc Học viện Quốc phòng, Đại
biểu đảng hội tỉnh Bến Tre tại phiên thảo luận về việc sửa đổi Bộ luật
hình sự chiều 26/5/2015 –Tuổi Trẻ, 27/5/2015).
«Loài người cho đến nay đã có ba phát minh vĩ đại có ý nghĩa bước
ngoặt của lịch sử. Thứ nhất là tìm ra lửa. Thứ hai là tìm ra cách sử
dụng kim khí. Thứ ba là làm chủ tập thể» (8). (Thuyết giảng tại trường Nguyễn Ái Quốc, 13/3/1977 * “Hồ sơ lãnh tụ Lê Duẩn”, Kho lưu trữ Học viện Quốc gia HCM). “Làm chủ tập thể chính là cái đúng, cái tốt và cái đẹp cao nhất mà con người đang vươn tới trong thời đại mới” (8). (Lê Duẩn: Nội dung cơ bản của cách mạng xhcn ở Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội 1986, trang 564).
«Con người mới xã hội chủ nghĩa là con người lao động Việt Nam làm
chủ tập thể [!]. Chỉ có chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, một chế
độ hoàn toàn mới mẻ trong lịch sử, mới giải phóng không những cho cả xã
hội, mà còn giải phóng cho từng gia đình, đem lại cuộc sống mới cho cả
xã hội và từng gia đình, kết hợp hài hoà lợi ích và hạnh phúc của xã hội
với lợi ích và hạnh phúc của gia đình». «Tư tưởng làm chủ tập thể mà
chúng ta xây dựng là tư tưởng làm chủ tập thể trên lập trường của giai
cấp công nhân. Nó không những chống lại ý thức làm chủ cá thể của bọn tư
bản và của những người sản xuất nhỏ, mà còn chống lại cả tư tưởng “tập
thể” theo lối phường hội, đem tập thể nhỏ của mình tách rời sự lãnh đạo
tập trung của Nhà nước vô sản, đem lợi ích của tập thể này đối lập với
lợi ích của tập thể kia». (Lê Duẩn: sđd trang 120, 128).
«Chúng ta cứ việc khai thác rừng, nay mai đến thời đại công nghiệp
hóa, hiện đại hóa việc trồng rừng dễ như trở bàn tay. Tôi đã đi nhiều
nước trên thế giới, họ trồng rừng chỉ trong mấy năm mà cây to như thế
này này…». (Ba Duẩn vương huấn thị cho ông Phan Xuân Đợt, Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp 1981-1992).
“Tôi cứ tưởng tượng vui một chuyện
‘ăn theo’ truyện cổ tích “Hoàng đế có đôi tai lừa” thế này. Có một anh
người Hà Nội kia, mắc bệnh “nghiện nói tục”, thế mà giờ đây bị cấm, anh
bí bách không chịu nổi. Đêm đêm khi thành phố lên đèn, anh chạy ra một
gốc cây, khoét một cái hố để thì thầm những lời chửi rủa vào đó.
Chẳng hay cái cây bực mình, cái
cây không chịu nổi, cành lá cọ vào nhau phát ra tiếng nói: Này ông, ông
bảo bọn người xấu xa cởi bọc nilon ra cho tôi đã, không thì tôi cũng
văng bậy bây giờ. Mà khi ấy chưa biết ai nói tục hơn ai”. (Mi An, 19/6/2015).
«Không có nhiệt tình cách mạng thì không thể có hành động cách mạng;
song, nếu chỉ có nhiệt tình không thôi thì nhiều nhất cũng chỉ có thể
phá được cái cũ chứ không thể xây dựng được xã hội mới». (9) (Lê Duẩn: sđd trang 121).
«Hiện nay, thường có tình hình là đối với một vấn đề nào đó,
có nhiều người nói tới nhưng chỉ mới nói theo sách vở, nói những cái
của người khác, chứ chưa thực sự biến những điều đó thành cái của mình».
(Lê Duẩn: sđd trang 56).
Từ
trên xuống, từ trái qua, 6 đời karaokeur: Hồ Thể Lan, Phan Thúy Thanh,
Lê Dũng, Nguyễn Phương Nga, Lương Thanh Nghị, Lê Hải Bình với cùng một điệp khúc ‘bất hủ’: “Việt Nam kiên quyết phản đối và yêu cầu Trung Quốc…”.
10.07.2015
Trần Thị Hải Ý
_______________________
Chú thích:
(1) “Chống Mỹ, cứu nước”, “Giải phóng
Miền Nam”… nọ kia chỉ là Đầu dê, “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh
cho Trung Quốc” mới là Thịt chó! Nói trắng ra: đcs VN và QĐND VN đích
thị là lính đánh thuê như đội quân Lê Dương (Légion étrangère) của Cộng
hoà Pháp! Và Hẹ Minh vương và Ba Duẩn vương là hai đầu nậu đánh thuê cho
sự bành trướng chủ nghĩa cộng sản, theo đơn đặt hàng của cộng sản quốc
tế, nhất là đơn của lão láng giềng đại hán bá quyền sô-vanh (chauvin)
nước lớn.
(2) Đạo đức mới trên ‘đất nước HCM’ là
đạo đức xã hội chủ nghĩa, là đạo đức Hồ Chí Minh, là “cứ có một số tiền
lại quả nào đó là cho qua hết cho những cái yếu, cái tồi (thậm chí vi
phạm hợp đồng… chọn cho lợi ích riêng của mình.” (Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, 07/6/2014).
“Rõ ràng môi trường sống của chúng ta đang rất có vấn đề, nó khiến cho
tâm tính con người cũng thay đổi theo. Nền tảng đạo đức xã hội nếu chưa
lung lay thì cũng đã có phần rệu rã, bởi cách người với người ứng xử với
nhau đang ngày càng thiếu tình. Nếu ai cũng lừa nhau để sống, người nọ
tận dụng cái không may của người kia để kiếm chác, người trên đè kẻ
dưới, kẻ dưới đè kẻ dưới nữa, bóp hầu bóp cổ nhau, trong cái môi trường
ấy, không văng tục chửi bậy mới là lạ. Như cái chăn rách tứ tung, vá
được lỗ này thì nó bung lỗ nọ. Cho dù Hà Nội có định tìm ra cách gì để
đối phó với nạn nói tục (ấy là giả sử thế) thì cũng chỉ là thuốc giảm
đau tại chỗ để đánh lừa cảm giác mà thôi.” (Mi An: Mất cắp sân bay và dân Hà Nội nói tục – Báo Đất Việt, 19/6/2015).
(3) “Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn
xây dựng chủ nghĩa xã hội còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ [21] này không
biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa”. (Nguyễn Phú Trọng vương, 24/10/2013).
“Chủ nghĩa xã hội, giai đoạn thấp của chủ
nghĩa cộng sản” mà “đến hết thế kỷ [21] này không biết đã có chủ nghĩa
xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa”, thế thì công dân ‘đất nước Hồ
Chí Minh’ phải trần thân làm “chuột bạch” thêm bao nhiêu thế kỷ nữa để
thấy Thiên đường cộng… sảng?
(4) Bụt nhà không thiêng:
(5) “Trung Quốc luôn đi tìm ảnh hưởng về
mặt chính trị, kinh tế, quân sự ở Việt Nam, thành ra những nguồn viện
trợ của Trung Quốc phải hết sức cẩn trọng”. (T$ Nguyễn Trí Hiếu, chuyên
gia kinh tế: Vốn vay từ Trung Quốc: Điều chúng ta không nên chấp nhận. Báo Đất Việt, 30/4/2015).
(6) Đảng viên «chúng ta chỉ cần phê bình và tự phê bình là đủ»!
Thực tiễn nền Công lý ở VN xã nghĩa đã xác minh lời của cố vương Ba
Duẩn vẫn đúng, còn lời của cố Tổng thống nước VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã,
đang và sẽ muôn muôn năm đúng! “Ở Việt Nam ta đã có cả một rừng luật
nhưng khi xét xử lại dùng luật rừng!” (luật sư Ngô Bá Thành). “Năm 2013,
Ngân hàng Thế giới chỉ ra: Việt Nam thuộc nhóm nước dẫn đầu thế giới về
xây dựng pháp luật nhưng lại thuộc nhóm nước yếu kém nhất thế giới về
thực thi pháp luật”. (Vietnamnet, 09/4/2015). Nhắc thêm: Từ 20-7-1954 đến 30-4-1975, nước VNDCCH (nay là “đất nước Hồ Chí Minh“) không có Đại học chuyên về luật (vì đâu cần), đó cũng là lẽ tất nhiên!
(7) Sau 30-4-1975, dưới triều Ba Duẩn thượng vương (và quận công Sáu Búa), Việt Cộng có cùng lúc:
* 2 cuộc chiến tranh:
1/ phiá Bắc với ông anh ‘đại gia ân’ Tàu Cộng (17/2/1979-16/3/1979), 2/
phiá tây Nam với ông em ‘đại thụ ân’ Miên Cộng (12/1978-1/1979, và sa
lầy trên đất Chùa Tháp đến 1989 mới buộc phải rút 2 chân ra – chỉ bởi
Liên Xô và Đông Âu tan rã, và đưa toàn thể “đất nước Hẹ Chí Minh” đút
đầu vào cái kim cô Thành Đô 16 chỉ vàng trộn 4 lượng bạc… bẽo Made in
China với bản hợp đồng nghe nói dài tới 30 năm, từ 1990 đến Hè 2020);
* 3 lần đổi tiền:
1) 21-9-1975; 2) 02-5-1978 và 3) 9-1985. Lạm phát năm 1985-1986 vọt tới
trên 700% năm! Sau 3 lần đổi tiền nói riêng, nước VNDCCH tem phiếu bao
cấp, cơ chế tập trung quan liêu đã thành công rực rỡ trong sứ mệnh lịch
sử tự ban là đưa nhân dân cả một đất nước ‘thống nhất’ lên tầm cao bình
đẳng trước nghèo đói, cùng quẫn khít nghĩa vô sản trong nền CH Xếp Hàng
Cả Ngày, dàn hàng ngang dắt tay nhau Xuống Hố Cả Nút! Suốt thời gian trị
vì của Ba Duẩn vương, xã hội xhcn Việt Nam đã thấm thiá tận đom thế nào
là đói, là bobo, là khoai sắn…; “mua cái đinh cũng phải xin miếng
giấy”. Nhờ Ba Duẩn vương ‘băng hà’ (10-7-1986), Việt Nam xã nghĩa mới
chính thức có cái gọi là ‘đổi mới’ (tư duy quản lý kinh tế / năm thành
phần kinh tế = quốc doanh, tập thể, công tư hợp doanh, cá thể và tư bản
tư nhân), tức là quay về hệ kinh tế cũ (kinh tế thị trường) nhưng vì tự
ái do cái máu kiêu ngạo hay cái tâm ý tự ti mặc cảm cộng sản hoặc từ cái
bệnhHÓC
(Heroic Obsessive Compulsive Disorder / bệnh anh hùng) đảng người ta
gắn đại thêm cái đuôi ngộ không thành ra “kinh tế thị trường định hướng
xhcn” để toàn đảng, toàn dân, toàn quân “quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bò
qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”, theo chính sách kinh tế của
nước VNCH mà đảng người ta đã vô minh “đào tận gốc, trốc tận rễ”! Đúng
là đổi mới cho giống y chang cái cũ!
* Và 4 tài liệuchính thống, hiếm quý
về quan hệ môi răng Việt cộng-Tàu cộng, mà ai còn lưu tâm tới thời cuộc
Việt Nam thì không thể không đọc và cất giữ, bởi vì từ sau Mật nghị
Thành Đô 1990, số sách này đã bị liệt vào diện quốc cấm:
(8) Cái phát minh mới mẻ «làm chủ tập
thể» đã được thực tế xhcn khẳng định đó chính là «vô chủ», là «cha chung
không ai khóc», hoặc nôm na dân dã là «chẳng ai làm chủ sất», «lắm sãi
không ai đóng cửa chùa»! Còn nói như nhà khoa học đỏ Tạ Quang Bửu “Toán
học đã trừu tượng, nhưng khái niệm làm chủ tập thể còn trừu tượng hơn”.
Đến 10/7/2006, hoàng tử đỏ Lê Kiên Thành cố ‘bẻ ghi’ biện hộ cho cha
mình bằng biện chứng pháp Xạo Hết Chỗ Nói “cổ phần hoá là làm chủ tập thể”! Hơn thế nữa, Lê hoàng tử còn kể rằng “có
nhiều người Nhật khi gặp cha tôi đã nói với ông là “trong tất cả luận
thuyết xhcn chúng tôi phục nhất cái ý kiến của đồng chí là làm chủ tập
thể”.
(9) Vỏn vẹn mấy tháng trong năm 1977, qua
cái gọi là Cải tạo Công thương nghiệp, “bồ tát thị hiện” Đỗ Mười với
“nhiệt tình Bôn-sê-vít” đã dùng dao thiến heo phá nát nền kinh tế tư bản
tư doanh nước VNCH, cụ thể tại Thủ đô Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông “nơi
đã có cả một cơ sở vật chất, kinh tế kỹ thuật lớn nhất miền Nam và khu
vực, nơi tập trung hơn 80% năng lực sản xuất công nghiệp cả miền Trung,
miền Nam. Ở đây tập trung hơn 38.000 cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp lớn nhỏ, trong đó có 766 công ty và 8.548 cơ sở công nghiệp tư
nhân”(theo Wiki).
Thủ tướng kiêm tác giả Công Hàm Đồng Phạm 1958 buộc phải gọi ông phó
của mình là “ĐM chỉ có phá”. Tuy chỉ có phá, nhưng sau đó ĐM lại được
đảng người ta liên hoàn ẳm lên nắm quyền Thủ tướng, rồi quyền TBT, rồi
Cố vấn BCH TƯ! Ôi, tổ tiên ta trước ăn ở thế nào mà nay hậu duệ phải
mang nghiệp hạn kinh kỳ lâu thế!
12. Bắc di cư: Dân Công giáo tị nạn từ miền Bắc và vai trò của họ tại Việt Nam CH, 1954-1959 Bài của Nghiên Cứu Quốc Tế - Bản dịch của Đỗ Hải Yến. Nguồn: Catholic Refugees from the North of Vietnam, and Their Role in the Southern Republic, 1954–1959 - Peter Hansen (2009)
5.Mở rộng truyền giáo ở thuộc địa Thượng Du Bắc Kỳ (Jean Michaud) - Journal of Southeast Áian Studies, 35 (2), pp 287-310 June 2004. Printed in the United Kingdom @ 2004 The National University ò Singapore DOI:10.1017/S0022463404000153